Sign In
Đảng bộ huyện Cẩm Mỹ
Nhân sự đại hội
Tin tức
Tư liệu Đại hội
Đảng bộ Huyện
Ý kiến đóng góp
Liên hệ
Turn on more accessible mode Skip to main content

Đảng bộ huyện Cẩm Mỹ

Báo cáo tham luận của Chi bộ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, nhiệm kỳ 2010 -2015 

Báo cáo tham luận của Chi bộ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, nhiệm kỳ 2010 -2015

Về phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2005 - 2010

Kính thưa: - Đoàn Chủ Tịch Đại hội !

                   - Quý vị Đại biểu !

                   - Toàn thể Đại hội !

Để làm rõ hơn một số nội dung trong báo cáo chính trị về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong nhiệm kỳ I giai đoạn 2005- 2010 và một số nhiệm vụ giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ II giai đoạn 2010- 2015. Được sự cho phép của Đoàn chủ tịch đại hội, tôi xin thay mặt Chi bộ Phòng Nông nghiệp & PTNT xin tham luận về những vấn đề trên như sau:

Về phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2005 - 2010:

Chi bộ đã tập trung chỉ đạo các bộ phận trong cơ quan chủ động, sáng tạo trong việc đề xuất những chương trình, kế hoạch để Huyện ủy, UBND huyện chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm ngành nông nghiệp đạt nghị quyết như báo cáo chính trị đã nêu. Đạt được chỉ tiêu này phải nói rằng công tác lãnh đạo các lĩnh vực sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, chuyển giao KHKT, phòng chống dịch bệnh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xây dựng nông thôn mới của Huyện ủy - UBND huyện là hết sức chặt chẽ  và trọng tâm cụ thể như:

- Về trồng trọt: việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong giai đoạn 2005-2010 là đúng hướng theo chủ trương giảm dần diện tích cây điều và một số cây cho năng suất, hiệu quả kinh tế thấp, hình thành vùng cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, cao su tiểu điền, sầu riêng mít nghệ... Cây hàng năm tập trung vào cây lương thực như lúa, bắp.Tổng sản lượng lương thực hàng năm ước đạt trên một trăm ngàn tấn, góp phần ổn định lương thực và nguyên liệu phục vụ cho nhà máy chế biến thức ăn gia súc. Năng suất và chất lượng một số cây chủ lực tăng khá (so với năm 2005) như cây cà phê năng suất tăng 4,0 tạ/ha; cây cao su năng suất  tăng 4,4 tạ/ha; cây sầu riêng năng suất tăng 21,8 tạ/ha; cây tiêu năng suất tăng 1,9 tạ/ha.

- Về chăn nuôi: Ước đến cuối năm 2010, giá trị sản xuất chiếm 27,31% trong cơ cấu ngành nông nghiệp (NQ 27%) tăng 167,85% so với năm 2005, Ngành chăn nuôi phát triển cả về số lượng, chất lượng và quy mô tổng đàn. Đặc biệt chăn nuôi trang trại phát triển mạnh. Toàn huyện có 125 trại chăn nuôi heo, tăng 97 trại so với cuối năm 2005, với tổng đàn 223.520 con, chiếm 79,15% tổng đàn; 138 trại gia cầm tăng 126 trại so với cuối năm 2005 với tổng đàn 1.452.800 con, chiếm 80% tổng đàn.

Công tác tiêm phòng và phòng chống dịch bệnh được chủ động thực hiện tốt. Hàng năm tỷ lệ tiêm phòng đạt trên 90%; khử trùng tiêu độc, vệ sinh môi trường kịp thời đã góp phần hạn chế dịch bệnh lây lan. Phần lớn các trang trại chăn nuôi đạt lợi nhuận từ 70 - 100 triệu đồng/trang trại/năm. Đồng thời đã hoàn thành quy hoạch vùng khuyến khích chăn nuôi và cơ sở giết mổ tập trung giai đoạn 2008 - 2015 và định hướng đến năm 2020 là cơ sở để phát triển chăn nuôi quy mô lớn, bền vững và hạn chế ô nhiễm môi trường nông thôn. Đã triển khai được 01 lò giết mổ tập trung thực hiện đảm bảo giết mổ theo quy định.

- Về nuôi trồng thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2010 khoảng 815,4 ha, sản lượng ước đạt 2.283 tấn. Chủ yếu nuôi trồng các giống cá có giá trị kinh tế cao như Diêu hồng, Rô phi…

- Về ứng dụng các tiến bộ KHKT: Chỉ đạo các bộ phận nghiệp vụ chuyên môn  thực hiện tập huấn, hội thào được 593 buổi  với 27.066 lượt người tham dự, tham quan 22 chuyến với 1.052 lượt người tham dự, trình diễn, khảo nghiệm 117 mô hình với diện tích 41,5 ha. Tổ chức được 15 lớp IPM, IPC trên cây tiêu, cây bí đỏ, cây điều và cấp chứng chỉ cho 175 lượt nông dân tham gia học tập. Ngoài ra, hỗ trợ thuốc BVTV cho nông dân phun xịt trừ dịch cào cào, bệnh rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ... góp phần dập tắt dịch cào cào trên địa bàn và hạn chế dịch hại cho cây trồng.

- Về Nông thôn mới: Đã tham mưu UBND huyện ban hành Quyết định số 944/QĐ-UBND và Quyết định số 945/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch chi tiết xây dựng Nông thôn mới của 02 xã Xuân Bảo và Bảo Bình giai đoạn 2009 - 2010. Các xã trên đã và đang dược đầu tư kết cấu hạ tầng theo quy định của xã nông thôn mới. Đặc biệt là trên lĩnh vực phát triển nông nghiệp tập trung xây dựng 3 mô hình sản phẩm cây mãng cầu, cây chôm chôm, cây sầu riêng đạt tiêu chuẩn VietGAP tiến tới chứng nhận thương hiệu. Ngoài ra tham mưu Huyện ủy ban hành Kế hoạch số 38/HU về nông  nghiệp, nông dân, nông thôn đảm bảo thực hiện đạt 19 tiêu chí theo Quyết định 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

Tuy đạt được những kết quả trên nhưng sản xuất nông nghiệp ở huyện quy mô nhỏ đang chiếm đa số, các hộ nông dân chưa liên kết, hợp tác với nhau được trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nông dân còn thiếu vốn, thủy lợi, điện phục vụ sản xuất, việc chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất, bảo quản chế biến nông sản còn hạn chế, nhiều mô hình điểm đạt hiệu quả cao nhưng chưa nhân ra diện rộng. Sự đầu tư, tác động của Nhà nước vào sản xuất nông nghiệp chưa nhiều, trong điều hành chưa tập trung, chưa phát huy được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, chưa cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn sản xuất nông nghiệp. Hệ thống quản lý, chỉ đạo nông nghiệp chưa hòan thiện, ở cấp xã.

Từ thực tế trên, chi bộ Phòng NN&PTNT đề xuất một số giải pháp thực hiện trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 như sau:

Về phát triển kinh tế nông nghiệp:

- Tăng cường đầu tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích. Sản xuất gắn với chế biến và nhu cầu thị trường. Chú trọng sản xuất theo quy trình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, sản phẩm hàng hóa phải đạt tiêu chuẩn GAP như: VietGAP, AsianGAP, GlobalGAP và phải có thương hiệu trên thị trường, tập trung vào các vùng sản xuất chuyên canh. Để thực hiện được đề nghị Huyện hỗ trợ một phần kinh phí như chuyển giao kỹ thuật, xét nghiệm mẫu đất, nuớc,sản phẩm, tăng cường cán bộ tham gia hướng dẫn thực hiện, xây dựng các mô hình điểm tập trung ở một số cây chủ lực, sau đó nhân rộng. Đối với nhân dân vận động mạnh dạn phá bỏ vườn tạp, vườn kém chất lượng, hiệu quả thấp sang đầu tư tập trung theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao.

- Tập trung đầu tư cơ sở  hạ tầng vào vùng quy hoạch khuyến khích phát triển chăn nuôi. Cụ thể như các tuyến đường chính vào khu quy hoạch, làm đường điện, hỗ trợ một phần kinh phí  xử lý nước thải. Triển khai thực hiện xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung và đưa vào vận hành. Phát triển mạnh chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp với quy mô vừa và lớn khoảng 10.000 - 50.000 con/trại đối với gà, từ 2000 đến 10.000 con/trại đối với heo, với quy trình công nghệ chuồng kín, trang thiết bị hiện đại tiên tiến và phương tiện vận chuyển đảm bảo theo quy định thú y. Tập trung cải tạo con giống theo hướng Sind hóa, nạc hóa. Mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, nhân rộng các mô hình nuôi thủy sản nước ngọt như cá lăng, Diêu hồng, cá rô phi đơn tính… Phát triển mạnh đàn trâu, bò, dê, thỏ… Củng cố và phát triển nhiều mô hình Câu lạc bộ chăn nuôi có thu nhập của một hội viên trên 100 triệu đồng/năm trở lên

-  Quản lý chặt chẽ vật tư phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi, thức ăn chăn nuôi; làm tốt công tác thú y phòng chống dịch bệnh, bảo vệ thực vật, bảo vệ đàn gia súc, gia cầm và diện tích cây trồng, đặc biệt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vùng sâu, vùng xa. Trên cơ sở tăng cường kiểm tra, giám sát. Chọn những hộ, những cơ sở, công ty kinh doanh có sản phẩm, uy tín chất lượng khuyến cáo cho nông dân ứng dụng. Đồng thời xử lý nghiêm các cơ sở theo quy định.

- Đẩy mạnh cơ giới hóa, điện khí hóa đồng bộ các khâu trong quá trình sản xuất, giải pháp thực hiện đó là đầu tư hệ thống điện sản xuất vào các xứ đồng, phục vụ cho các máy móc công nghệ ứng dụng trong các khâu thu hoạch, chăm sóc, sơ chế, chế hiến sản phẩm nhằm giảm giá thành để, đảm bảo tính cạnh tranh.Hình thành các trang trại công nông nghiệp, giảm dần tỷ lệ lao động nông nghiệp. Xây dựng kế hoạch hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, hình thành cụm chế biến nông sản, trái cây gắn với vùng sản xuất nguyên liệu, hạn chế thất thoát trong và sau thu hoạch, gia tăng giá trị nông sản trên thị trường.

Về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ lực:

- Tiếp tục vận động nhân dân sản xuất cây điều, vườn tạp có tầng canh tác thỗ nhưỡng phù hợp sang trồng cao su tiểu diền, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định, chú trọng đến công tác quy hoạch để có cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Nhà nước hỗ trợ một phần ngân sách để kích thích nhân dân tham gia các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chủ lực.

- Chủ động liên hệ với các viện, trường, trung tâm nghiên cứu thực nghiệm khoa học, các công ty cung ứng giống cây trồng, vật  nuôi cung cấp kịp thời về số lượng và chất lượng giống cho người trồng và chăn nuôi sử dụng đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng.

- Tuyên truyền thuyết phục vận động nhân dân tham gia liên doanh liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Hạn chế dần và tiến tới xóa bỏ quan niệm sản xuất nhỏ lẻ manh mún và không theo kế hoạch cụ thể. Thu thập thông tin, tuyển chọn các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao nhân rộng cho nhân dân thực hiện.

Về xây dựng nông thôn mới:

Căn cứ Quyết đinh số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Trong đó tập trung thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:

- Quy hoạch xây dựng Nông thôn mới - Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội- Chuyển dịch cơ cầu kinh tế nâng cao thu nhập- Giảm nghèo và an sinh xã hội - Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn- Phát triển giáo dục đào tạo ở nông thôn - Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn - Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn- Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn - Nâng cao chất lượng các tổ chức Đảng. Chính quyền và đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn - Giữ vững an ninh trật tự xã hội nông thôn.

Để thực hiện các nội dung trên liên quan đến rất nhiều ngành, nhiều cơ quan đơn vị và tổ chức ở địa phương đặc biệt là ủy ban nhân dân cấp xã. Chi bộ  Phòng NN tập trung chủ động tham mưu Huyện ủy - UBND huyện chỉ đạo đạt  hiệu quả cao nhất. Trước mắt tập trung tuyên truyền phổ biến, triển khai đầy đủ, có chất lượng các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, về nông nghiệp- nông thôn và nông dân. Thông tin kịp thời các mô hình, điển hình tiên tiến, sáng kiến kinh nghiệm hay về xây dựng nông thôn mới để phổ biến nhân rộng.

- Phòng NN&PTNT nghiên cứu đầu tư xây dựng các chương trình dự án phục vụ sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của nông dân. Các ngành chuyên môn của huyện, UBND các xã có kế hoạch đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ, công chức phục vụ cho công tác quản lý phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện quản lý nhà nước đúng theo các quy định của pháp luật.

- Đề nghị Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, từ huyện đến xã vận động quần chúng nhân dân tham gia vào các phong trào, chương trình, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tạo chuyển biến rõ nét về nhận thức trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về vai trò ý nghĩa, sự cần thiết xây dựng nông thôn phát triển toàn diện, bền vững trong giai đoạn hiện nay.

Trên đây là báo cáo tham luận của Chi bộ Phòng NN&PTNT kính chúc sức khỏe toàn thể quí vị đại biểu - chúc đại hội thành công tốt đẹp./.

 Video đại hội Đảng bộ

 Audio đại hội Đảng bộ Tỉnh

Phóng sự ảnh

Xem tất cả hình >>
CÁC KÌ ĐẠI HỘI