Sign In
Đảng bộ huyện Cẩm Mỹ
Nhân sự đại hội
Tin tức
Tư liệu Đại hội
Đảng bộ Huyện
Ý kiến đóng góp
Liên hệ
Turn on more accessible mode Skip to main content

Đảng bộ huyện Cẩm Mỹ

Báo cáo kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ I, nhiệm kỳ 2005 - 2010 

Báo cáo kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ I, nhiệm kỳ 2005 - 2010

 
BÁO CÁO
Kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ xã lần thứ I, nhiệm kỳ 2005 - 2010

I/ Những kết quả đạt được:

1/ Về lĩnh vực kinh tế:

Qua 5 năm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ I; trong bối cảnh có những thuận lợi cơ bản, song cũng gặp nhiều khó khăn về thời tiết, giá cả, thị trường, nhưng kinh tế trên địa bàn xã vẫn tiếp tục tăng trưởng khá. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại dịch vụ tăng nhanh trong tổng sản phẩm nội địa (GDP). Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư phát triển, luôn hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch thu ngân sách hàng năm.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm tăng 10,84%, vượt mục tiêu Nghị quyết (9 % ); GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 7.141.900đ, năm 2006 đạt 8.345.600đ, năm 2007 đạt 9.860.400đ (NQ: 9.650.600đ), năm 2010 ước đạt 13.696.000đ (NQ: 12.751.000đ ).

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng theo mục tiêu Nghị quyết. Cơ cấu kinh tế năm 2005, ngành Nông nghiệp là 73,45%; ngành Công nghiệp là 5,27%, ngành TMDV là 21,28%. Đến 6 tháng đầu năm 2010 dự ước ngành Nông nghiệp giảm còn 61%; ngành Công nghiệp xây dựng đạt 8,43%; ngành Thương mại dịch vụ tăng lên 30,57%.

1.1/ Sản xuất nông nghiệp:

Thường xuyên gặp khó khăn do thời tiết diễn biến không thuận lợi, giá cả nông sản thấp; nhưng Đảng ủy đã lãnh đạo các Ban ngành chủ động thực hiện tốt các biện pháp như: vận động nhân dân tham gia cùng Nhà nước đầu tư hạ tầng kỹ thuật, đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ đưa nông nghiệp phát triển ổn định cả trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề dịch vụ.

Giá trị sản xuất hàng năm đều tăng, đến tháng 6 năm 2010 tăng 11,06%. trong đó trồng trọt tăng 5,29%, chăn nuôi tăng 15,65%; cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch tích cực, tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 52,48 % năm 2005 lên 63,87% trong 6 tháng đầu năm 2010, vượt mục tiêu Nghị quyết (NQ:………..% ).

Đã mở rộng diện tích và chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý để hình thành vùng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa phục vụ cho chế biến và xuất khẩu với mục tiêu tăng năng suất, chất lượng. Đến nay diện tích cây lâu năm, cây ăn trái: 623,5ha ( trong đó có 38,1 ha cao su tiểu điền ), tăng 38,1 ha so năm 2004; đã tập trung lãnh đạo thực hiện luân canh, xen canh, sử dụng giống mới và chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, khuyến khích mở rộng quy mô chăn nuôi công nghiệp, phát triển bầy đàn, đến 6 tháng đầu năm 2010 đàn heo có trên 62.000 con, tăng 40,3 % so cùng kỳ năm 2005; đàn gia cầm có 12.000 con.Đàn bò 377 con.

Cơ cấu kinh tế nông thôn tiếp tục đổi mới, các hoạt động dịch vụ phục nông nghiệp hàng năm tăng; góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định, cải thiện đời sống nông dân và từng bước đổi mới bộ mặt nông thôn.

Tăng cường công tác chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức nhiều lớp tập huấn, hội thảo về sản xuất nông nghiệp cho hội viên nông dân, chú trọng sử dụng giống mới đối với cây lâu năm như hồ tiêu, sầu riêng, điều ... đem lại năng suất, chất lượng cao;  việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi được thực hiện theo hướng phát triển các loại cây lâu năm có hiệu quả kinh tế. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi heo theo hướng công nghiệp, đã xuất hiện nhiều trang trại trong chăn nuôi. Ưu tiên phát triển tiểu thủ công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp, tập trung vào các ngành chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa.

Đã xét cấp được 1.145 giấy chứng nhận QSDĐ cho nhân dân, với tổng diện tích 634,33 ha; trong đó khu vực các ấp 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8 đã cơ bản hoàn thành việc cấp phát giấy, riêng khu vực ấp 7, ấp 9 tiến độ còn chậm, nguyên nhân chủ yếu do có nhiều hộ xâm canh và chưa được bàn giao.

1.2/ Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp:

Tiếp tục có bước phát triển, giá trị sản xuất hàng năm đều tăng, đến tháng 6 năm 2010 tăng 20% so cùng kỳ; một số ngành sản xuất phát triển, đúng định hướng như: chế biến hạt điều, công nghiệp cơ khí và sản xuất vật liệu xây dựng. Cơ sở sản xuất CN – TTCN đến nay có 37 cơ sở với quy mô nhỏ.

1.3/ Thương mại – dịch vụ:

Tiếp tục phát triển từ 199 cơ sở năm 2005, lên 261 cơ sở giữa năm 2010, giải quyết việc làm cho trên 510 lao động. Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ hàng năm đều tăng. Thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân. Các hoạt động dịch vụ tín dụng, vận tải, bưu chính viễn thông đều nâng dần chất lượng phục vụ; đến nay đã đạt 16,5 máy điện thoại trên 100 dân ( NQ năm 2010: 16 máy ), đảm bảo thông tin phục vụ lãnh đạo của địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và phục vụ tốt nhu cầu về thông tin liên lạc của nhân dân.

1.4/ Trong lĩnh vực đầu tư:

Tổng vốn đầu tư phát triển 48,69 tỷ đồng, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết; trong đó nguồn ngân sách ( TW, tỉnh và Huyện ), chiếm 15,42% và nhân dân tự làm chiếm 84,58%; mức đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm đều tăng. Vốn đầu tư có tác động tích cực tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng, tạo bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc.

Đã đầu tư nâng cấp, làm mới trên 3,56km đường giao thông; các tuyến đường trong xã hầu hết được nâng cấp, thảm nhựa; tuyến đường quốc lộ 56 đã lắp đặt hệ thống điện đường, nâng cấp lề đường và đầu tư cải tạo, nâng cấp hệ thống cấp, thoát nước, tạo cho bộ mặt nông thôn ngày một khang trang, sạch đẹp. Đưa điện lưới quốc gia về 9/9 ấp và đang tiếp tục phát triển điện lưới 04kv phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân ở những nơi có yêu cầu. Xây dựng mới 10 phòng và tu sửa 05 phòng học, đầu tư trang thiết bị phục vụ việc dạy và học; xây dựng trung tâm văn hóa, sửa chữa trụ sở UBND xã. Xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt phục vụ nhân dân.

1.5/ Kinh tế hợp tác và hợp tác xã:

Được quan tâm chỉ đạo phát triển, đã củng cố HTX Dịch vụ nông nghiệp xã, CLB IPM, thành lập CLB chăn nuôi năng suất cao; ngoài ra trên địa bàn xã đã hình thành 34 trại chăn nuôi. Nhìn chung tổ chức kinh tế hợp tác được quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện hoạt động nâng hiệu quả sản xuất kinh doanh, qua đó ngày càng tạo mối quan hệ gắn bó, thúc đẩy sản xuất phát triển.

1.6/ Thu – chi ngân sách:

Tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết, chỉ tiêu Huyện giao. Chi ngân sách được cải tiến, đảm bảo nhu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi đào tạo cán bộ và thực hành tiết kiệm chi theo qui định. Tuy vậy do định mức kinh phí được giao còn hạn hẹp nên gặp nhiều khó khăn trong cân đối ngân sách Nhà nước. Đảng ủy đã tăng cường chỉ đạo việc thu ngân sách; vai trò điều hành của Nhà nước, sự phối hợp giữa các ngành, đoàn thể được phát huy; Ban tài chính, thuế luôn tăng cường trách nhiệm tổ chức thu, có sự chủ động kiểm tra để hướng dẫn thực hiện đúng qui định và phòng chống tiêu cực.

2/ Văn hóa xã hội:

2.1/ Khoa học – công nghệ và môi trường:

Trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp được nâng lên, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp cơ khí, ghép giống cây lâu năm, cây ăn trái; ứng dụng kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật, cải tạo đất có kết quả. Công nghệ thông tin được ứng dụng ngày càng phổ biến ở hầu hết các cơ quan đơn vị trong xã phục vụ cho công tác quản lý dữ liệu, xử lý thông tin; trường THCS có dạy lý thuyết và thực hành vi tính, số cơ sở phục vụ ứng dụng tin học tăng.

Tổ chức thu gom rác, lắp đặt túi Biogar trong chăn nuôi heo, trồng trên 1.000 cây xanh ở trụ sở, Nhà văn hóa và 2 trường học, tuyên truyền phổ biến các chính sách về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong nhân dân và giảm ô nhiễm trên địa bàn.

2.2/ Công tác giáo dục đào tạo:

Duy trì được nhịp độ phát triển theo mục tiêu Nghị quyết, huy động 100% trẻ em trong độ tuổi vào học tiểu học và 100% học sinh tốt nghiệp tiểu học được vào lớp 6. Đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa, chất lượng giáo dục được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp cao, số học sinh thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp năm sau cao hơn năm trước. Số học sinh giỏi tăng. Duy trì việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; xã đã được công nhận hoàn thành phổ cập THPT năm 2007, giữ vững đạt chuẩn phổ cập bậc tiểu học và THCS.

Quản lý giáo dục ngày càng đi vào nề nếp; công tác Đảng, Đoàn, Đội trong nhà trường được thực hiện tốt hơn, đã phát triển được 23 Đảng viên, đạt 33,7% so tổng số giáo viên, tăng 483,3% so năm 2005; lập được 2 chi bộ trường học, chi bộ có cấp uỷ, chất lượng hàng năm đều đạt chi bộ trong sạch vững mạnh.

2.3/ Các chương trình y tế quốc gia:

Được thực hiện có hiệu quả, quan tâm phòng chống dịch, khám và điều trị bệnh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân; xã có trạm y tế, có bác sỹ phụ trách, từng bước nâng chất lượng khám và điều trị tại chỗ, các dịch vụ y tế tư nhân phát triển, tạo thuận lợi cho nhân dân khám và chữa bệnh.

Chú trọng công tác truyền thông dân số, tạo nề nếp và nâng chất lượng chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,34% năm 2005 đến nay giảm còn 1,25% ( NQ đến năm 2010 giảm còn 1,3% ).

2.4/ Đời sống của đại bộ phận nhân dân:

Cơ bản ổn định, thu nhập bình quân đầu người từ 7.141.900đ năm 2005 lên 13.696.000đ năm 2010, đến nay có 100% số hộ có nhà tôn, ngói, bán kiên cố và kiên cố; 96,7% hộ sử dụng điện lưới quốc gia; 97.6% hộ sử dụng nước hợp vệ sinh; 97,5% số hộ có tivi. Quan tâm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo; năm 2006 theo chuẩn mực mới toàn xã có 149 hộ nghèo, chiếm 12,8% tổng số hộ, đến năm 2010 giảm …….hộ, hiện có ………..hộ nghèo, chiếm 7,25%.

2.5/ Đã giải quyết việc làm:

Cho trên 525 lao động trên địa bàn với các hình thức như: giải quyết việc làm tại chỗ, thông qua các dự án trồng trọt, chăn nuôi và giới thiệu đi làm ở các công ty, xí nghiệp trong và ngoài Tỉnh.

2.6/ Các hoạt động văn hóa – thông tin, thể thao:

Có nhiều tiến bộ, nâng dần chất lượng theo hướng hiệu quả, từng bước phục vụ kịp thời nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân; cuộc vận động “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” từng bước đi vào chiều sâu và đạt kết quả khá; đến cuối năm 2009 có 96% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa; có 88,8% ấp được công nhận ấp văn hóa ( NQ: 100% ). Công tác thông tin tuyên truyền đã phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Hoạt động thể dục thể thao tiếp tục phát triển rộng khắp với cuộc vận động “ toàn dân rèn luyện thân thể theo gương bác Hồ vĩ đại”. Tham gia hội thi, hội thao phục vụ nhân dân trong các dịp lễ, tết; các đội tuyển của xã dự thi ở Huyện đạt nhiều giải thưởng; công tác giáo dục thể chất trong các trường học đi vào nề nếp.

2.7/ Chính sách đền ơn đáp nghĩa:

Được chăm lo thiết thực, đã vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa đạt chỉ tiêu theo NQ đề ra, xây dựng 38 căn nhà tình thương, sửa chữa nhà ở cho 04 hộ gia đình chính sách; tìm kiếm, quy tập 01 hài cốt liệt sỹ. Trong các dịp lễ, tết đã tổ chức thăm và tặng quà các đối tượng chính sách tiêu biểu, bên cạnh đó đã cứu tế, cứu trợ xã hội cho 01 hộ với số tiền 1,6 triệu đồng; học sinh, sinh viên là con em các gia đình chính sách được hưởng trợ cấp ưu đãi theo quy định, sinh viên nghèo được vay vốn 100%.

3/ An ninh – quốc phòng và thực hiện pháp luật:

- An ninh chính trị – TTATXH cơ bản được giữ vững. Tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết 03, 08/BCT của Bộ Chính trị ( khóa VIII ) và các quan điểm đổi mới về nhiệm vụ QP – AN của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; triển khai chặt chẽ thế trận ANND, phát động quần chúng tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc với trên 2172 lượt người tham dự, quần chúng đã cung cấp nhiều nguồn tin có giá trị; quản lý việt kiều về thăm thân nhân; kịp thời xử lý và ngăn chặn những hoạt động không đúng quy định của tôn giáo và tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai, không để xảy ra diễn biến phức tạp.

Chỉ đạo tăng cường thực hiện Nghị quyết 09/CP và quyết định số 138/TTg về chương trình quốc gia phòng chống tội phạm; triển khai các đề án phòng chống tội phạm có tổ chức, tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, đồng thời thực hiện các biện pháp lập lại trật tự, nhất là trật tự an toàn giao thông.

Tiếp tục triển khai xây dựng thế trận QPTD gắn với thế trận ANND; thường xuyên duy trì các chế độ sẵn sàng chiến đấu, chủ động điều chỉnh bổ sung các kế hoạch A, A2, A4 và các kế hoạch phòng chống cháy nổ, lũ lụt, khắc phục thiên tai. Lực lượng DQTV, DBĐV tiếp tục được củng cố, nâng cao chất lượng; lực lượng DQTV toàn xã đạt tỷ lệ 1,78% so dân số, có 16,7% là Đảng viên ( tăng 15% ), 70% là đoàn viên, xã đội trưởng – xã đội phó là Đảng viên, có Chi bộ Quân sự. Tổ chức huấn luyện cho DQTV; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho 100% cán bộ xã và bí thư Chi bộ, trưởng khu – ấp, ấp đội trưởng. Những năm qua xã đều hoàn thành chỉ tiêu giao quân chất lượng năm sau cao hơn năm trước. Phối hợp tổ chức nhiều đợt công tác dân vận với trên 450 lượt bộ đội, dân quân lao động giúp dân.

Ban Tư pháp xã được củng cố và nâng chất lượng hoạt động theo tinh thần NQ 08/TW của Bộ chính trị ( khóa IX ); tăng cường quan hệ phối hợp giữa các cơ quan hữu quan, đấu tranh ngăn ngừa, phòng chống tội phạm có hiệu quả, góp phần giữ vững ANTT, phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong nhân dân được quan tâm thực hiện. Xây dựng tủ sách pháp luật ở UBND; để nhân dân tham khảo, tìm hiểu pháp luật. Tập huấn công tác hòa giải cho cán bộ làm công tác hòa giải ở cơ sở.

4/ Hoạt động bộ máy Nhà nước:

Chất lượng hoạt động của HĐND xã được nâng lên, tổ chức các kỳ họp đúng luật định, đề ra được Nghị quyết và giám sát việc thực hiện Nghị quyết theo kế hoạch. Quan tâm chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND xã. Thực hiện chặt chẽ, có nề nếp mối quan hệ tiếp xúc cử tri với đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND các cấp theo quy định, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của cử tri để đề đạt giải quyết.

Năng lực quản lý, điều hành thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của UBND xã được tăng cường, chấp hành đúng các Nghị quyết của Đảng bộ và HĐND cùng cấp và kế hoạch của cơ quan Nhà nước cấp trên. Tổ chức bộ máy cơ quan Nhà nước được tiếp tục kiện toàn, cán bộ thuộc UBND xã được sắp xếp cơ bản ổn định. Vai trò tập thể của UBND và trách nhiệm cá nhân từng thành viên được phát huy trên cơ sở thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc. Tăng cường thực hiện cải cách hành chính, đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đã có 100% ấp được phê chuẩn quy ước hoạt động và bầu trưởng ấp theo quy định.

5/ Công tác vận động quần chúng:

Công tác dân vận của Đảng ủy được tăng cường, vai trò của Mặt trận, các đoàn thể được phát huy, các phong trào thi đua yêu nước của quần chúng thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội ngày càng sâu rộng và thiết thực hơn. Luôn đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, đoàn thể, đáp ứng tốt hơn nhu cầu, lợi ích chính đáng, thiết thân của quần chúng thông qua việc thực hiện các phong trào thi đua yêu nước theo hướng ích nước lợi nhà như: xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa giao thông nông thôn, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình thương, đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ an ninh Tổ quốc ... Phong trào nông dân sản xuất giỏi; thanh niên mưu sinh lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước; phụ nữ giỏi việc nước đảm việc nhà, giúp nhau làm kinh tế gia đình, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan; giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Qua phong trào đã tập trung củng cố, kiện toàn, nâng chất lượng hoạt động hệ thống tổ chức Mặt trận, đoàn thể; số đoàn thể vững mạnh, khá hàng năm đều tăng, thu hẹp diện trung bình. Tổng số đoàn viên, hội viên được tập hợp vào các tổ chức đoàn thể đạt tỷ lệ 78,3% so tổng số quần chúng trong độ tuổi. Trong đó đoàn viên công đoàn tỷ lệ 100%, hội viên phụ nữ tỷ lệ 84% ), đoàn viên TNCSHCM đạt tỷ lệ 41,3%, hội viên Hội LHTN đạt tỷ lệ 54,3%, Hội cựu chiến binh đạt tỷ lệ 78,66%, hội viên hội Nông dân đạt tỷ lệ 89%.

Đã tổ chức đại hội Mặt trận, công đoàn lao động, hội Nông dân, hội LHPN, Hội CCB lần thứ IV, Đại hội Đoàn thanh niên. Chỉ đạo sơ kết Nghị quyết 63/TU, 10 năm thực hiện QCDC ở cơ sở. Quán triệt và xây dựng các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TW5 ( khóa X ).

Quan tâm thực hiện công tác tôn giáo, dân tộc. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn nhìn chung thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước; tạo điều kiện cho các chức sắc, chức việc, đồng bào có đạo tham gia hoạt động xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, giúp đỡ, hướng dẫn đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, XĐGN.

6/ Công tác xây dựng Đảng:

6.1/ Công tác chính trị, tư tưởng:

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được tăng cường, chú trọng bồi dưỡng lý luận chính trị, nâng cao nhận thức chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, Đảng viên; tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt tư tưởng nhân các ngày lễ, kỷ niệm, các sự kiện lịch sử trọng đại; sử dụng có hiệu quả các loại báo Đảng, tạp chí, thông tin tư liệu. Thực hiện dân chủ trong sinh hoạt chính trị tư tưởng, thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng trong nội bộ Đảng, trong nhân dân, từ đó thực hiện các biện pháp tuyên truyền giáo dục ngày càng có hiệu quả hơn. Củng cố Ban tuyên giáo Đảng ủy. Triển khai thực hiện mô hình “ Đảng bộ xã lãnh đạo công tác khoa giáo trong sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn”. Chỉ đạo quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy, Huyện ủy và của Đảng ủy xã đến Đảng viên, cán bộ và nhân dân; Đảng viên học tập Nghị quyết đạt tỷ lệ trên 98%

Công tác chính trị tư tưởng được chỉ đạo thực hiện chặt chẽ đã giúp cho Đảng viên, cán bộ và nhân dân nắm vững các quan điểm cơ bản trong Nghị quyết của Đảng; tăng cường sự thống nhất về tư tưởng và hành động, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu “ diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, củng cố thêm niềm tin vào công cuộc đổi mới của Đảng, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng.

6.2/ Công tác chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của  Đảng:

Đảng ủy đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Trung ương Đảng, của Tỉnh ủy, Huyện ủy và của Đảng ủy xã. Quá trình chỉ đạo có phân công theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, định kỳ tổ chức sơ tổng kết để đánh giá kết quả đạt được, rút kinh nghiệm và bổ sung biện pháp thực hiện.

Tập trung xây dựng chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết của Đảng của Đảng bộ, từng bước đưa Nghị quyết vào cuộc sống, vận dụng phù hợp vào điều kiện thực tế ở cơ sở để có biện pháp tích cực trên các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng – an ninh và xây dựng hệ thống chính trị của Đảng bộ xã ngày càng vững mạnh.

6.3/ Công tác tổ chức cán bộ:

Tiếp tục củng cố, nâng chất lượng các tổ chức Đảng, Đảng viên gắn với đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo NQTW6 lần 2 ( khóa VIII ) và kết luận Hội nghị TW 4 ( khóa IX ). Sau đại hội Đảng bộ, Đảng ủy đã xây dựng và thực hiện quy chế làm việc, phân công cụ thể nhiệm vụ thành viên BCH Đảng bộ xã. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy đối với các Chi bộ trực thuộc, HĐND, UBND.

Văn phòng, UBKT, Ban Tuyên giáo Đảng ủy đều được củng cố về tổ chức, nâng chất lượng chuyên môn, tham mưu cho Ban chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy tốt hơn.

Các Chi bộ trực thuộc Đảng bộ được củng cố, đến nay 13/13 chi bộ T.T đã tổ chức Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2010 – 2013, kiện toàn theo từng loại hình, được quan tâm nâng chất lượng, nhất là những nơi yếu kém; Đảng bộ xã hiện có 13 chi bộ trực thuộc. Kết quả phân tích chất lượng hàng năm, số Chi bộ Đảng trong sạch vững mạnh tăng từ 25% năm 2005 lên 77% năm 2009; số Chi bộ Đảng yếu kém giảm từ 37,5% năm 2005 xuống 0% năm 2009 ( từ 03 xuống 0 Chi bộ ). Chú trọng nâng chất lượng đội ngũ Đảng viên, phần lớn Đảng viên vững vàng về tư tưởng chính trị, có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Qua phân tích chất lượng năm 2005 có 82% Đảng viên hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đến năm 2009 qua bình xét Đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc và hoàn thành nhiệm vụ đạt ………..%.

Đảng ủy có Nghị quyết chuyên đề về công tác phát triển Đảng hàng năm; chú trọng tạo nguồn, bồi dưỡng đội ngũ trung kiên để phát triển Đảng viên mới có chất lượng, cử 07 quần chúng đi học lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng. Toàn xã hiện có ………..đối tượng trung kiên ở …………chi bộ. Đã kết nạp 41 Đảng viên mới đạt tỷ lệ 13,6%; so Đảng viên có mặt đầu năm, mục tiêu Nghị quyết 10%, trong đó Đảng viên nữ, Đảng viên có trình độ THPT chiếm tỷ lệ khá, Đảng viên là giáo viên, là cán bộ y tế được quan tâm phát triển.

Huyện ủy, UBND Huyện có quyết định phê chuẩn cán bộ chủ chốt, đầu ngành, đã ra quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ theo đề nghị của Đảng ủy xã. Đã cơ bản sắp xếp ổn định bộ máy, cán bộ các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể. Quan tâm xem xét, đề nghị giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ theo đúng quy định.

Chú trọng đề nghị gửi đi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Qua 5 năm đã gửi đi đào tạo, bồi dưỡng được 403 lượt cán bộ đi học các lớp bồi dưỡng công tác Đảng, kiến thức pháp luật, kiến thức quốc phòng và vận động quần chúng, tổ chức thực hiện tốt Pháp lệnh về cán bộ, công chức; Pháp lệnh phòng chống tham nhũng; Pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí và quy định số 76/TW, quy định 115/TW của Bộ chính trị.

Thực hiện chặt chẽ công tác rà soát chất lượng chính trị cán bộ. Xác minh một số trường hợp phục vụ công tác phát triển  Đảng; đề nghị bổ nhiệm, tuyển dụng và bố trí cán bộ. Tổ chức quy hoạch cán bộ chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ khoá II.

6.4/ Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng:

Đảng ủy và các Chi bộ trực thuộc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, kiểm tra, giám sát hàng năm. Tiến hành có nề nếp công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết  của Đảng và nhiệm vụ chính trị trong Đảng bộ, qua đó kịp thời phát huy mặt tích cực, uốn nắn sai sót. Chủ động nắm tình hình, kiểm tra ngăn ngừa và kịp thời phát hiện Đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Đã xem xét, kết luận đề nghị xử lý và xử lý kỷ luật 06 trường hợp Đảng viên vi phạm, bằng hình thức khiển trách 03, cảnh cáo 02, cách chức 01, chủ yếu là vi phạm  chính sách, pháp luật của Nhà Nước và ý thức tổ chức kỷ luật, đạo đức lối sống. Tổ chức thực hiện các kế hoạch của Huyện ủy về kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và thực hiện quy định của Đảng về những điều Đảng viên không được làm.

6.5/ Đổi mới về phương thức lãnh đạo:

Đảng ủy và các Chi bộ trực thuộc chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng quy chế và làm việc theo quy chế, xây dựng chương trình làm việc toàn khóa, Nghị quyết hàng năm, chương trình công tác hàng quý, tháng; Thường trực Đảng ủy có chương trình công tác và hội ý hàng tuần. Duy trì nề nếp giao ban giữa Thường trực Đảng ủy với các Chi bộ trực thuộc, HĐND, UBND, Mặt trận – các đoàn thể. Dành thời gian đi kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Đảng và nắm tình hình trực tiếp chỉ đạo giải quyết những phát sinh trong Đảng bộ ở cơ sở. Chất lượng các kỳ họp BCH, Ban Thường vụ Đảng ủy được nâng lên, thường xuyên chỉ đạo nâng chất lượng sinh hoạt Đảng các Chi bộ trực thuộc ở cơ sở. Chú trọng đổi mới quy trình ra Nghị quyết và lãnh đạo thực hiện Nghị quyết của Đảng, quá trình thực hiện có tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm và tiếp tục xác định phương hướng nhiệm vụ tới.

Đạt kết quả trên, trước hết là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, UBND Huyện; sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể từ xã đến các ấp trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng; động viên được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, vượt qua khó khăn để thực hiện các Nghị quyết của Đảng bộ.

II/ NHỮNG TỒN TẠI, THIẾU SÓT:

1/ Trên lĩnh vực kinh tế:

- Sản xuất Nông nghiệp: chậm cải tiến đổi mới kỹ thuật canh tác nên năng suất các loại cây trồng, nhất là các loại cây lâu năm tăng chậm. Quá trình chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa nhạy bén, định hướng chưa bền vững. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân còn chậm.

- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, quy mô nhỏ, mang tính tự phát, công nghệ phần lớn lạc hậu, tác động phục vụ công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn chưa tích cực.

- Thương mại – dịch vụ phát triển, nhưng hoạt động thương nghiệp quốc doanh chưa có. Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp xã hoạt động kém hiệu quả và chưa có sự chuyển biến tích cực về phương thức kinh doanh; quản lý Nhà nước sau đăng ký kinh doanh đối với một số ngành nghề dịch vụ với HTX chưa chặt chẽ.

- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đạt khá, nhưng tỷ lệ thu đóng góp 20% trong nhân dân còn ít, trong khi nguồn vốn ngân sách hạn hẹp; kết quả huy động vốn trong nhân dân đạt thấp so chỉ tiêu kế hoạch.

- Thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, nhưng thu nghĩa vụ lao động công ích, quỹ ANQP, quỹ XHHGTNT chưa đạt so với chỉ tiêu Huyện giao.

2/ Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội:

- Thu nhập bình quân đầu người có tăng, nhưng do giá cả leo thang nên đời sống nhân dân vẫn còn ở mức độ.

- Trình độ khoa học công nghệ chưa phát triển mạnh.

- Giải quyết việc làm cho lao động còn ít, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề thấp.

- Tình trạng vi phạm trên lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát, ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống nhân dân.

- Phong trào văn hóa, thể dục thể thao, xây dựng gia đình văn hóa; ấp văn hóa chưa đều và chưa sôi nổi, có ấp không giữ được danh hiệu ấp văn hóa, xã bị mất danh hiệu xã lành mạnh không có tệ nạn xã hội năm 2007.

3/ Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn xảy ra tội phạm hình sự, được kiềm chế nhưng tính chất vẫn rất phức tạp. Tai nạn giao thông giảm từ khi quốc lộ 56 được nâng cấp, nhưng số vụ tai nạn diễn biến phức tạp, đấu tranh chống tệ nạn xã hội kết quả chưa cao.

4/ Chất lượng hoạt động của các tổ và của đại biểu HĐND có tổ, có đại biểu chưa tốt; công tác quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực chưa chặt chẽ, việc triển khai thực hiện một số chương trình kinh tế, xã hội kết quả còn hạn chế.

5/ Tỷ lệ tập hợp quần chúng vào tổ chức các đoàn thể tuy đã gần đạt chỉ tiêu Nghị quyết ( NQ: 75% ), nhưng chất lượng chính trị chưa đạt yêu cầu, xây dựng lực lượng nòng cốt trong các đoàn thể trong đó đồng bào có đạo, cộng đồng người Hoa còn mỏng.

6/ Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số chi bộ trực thuộc chưa ngang tầm với yêu cầu của tình hình mới. Lãnh đạo công tác tư tưởng và nắm tình hình tư tưởng trong cán bộ, Đảng viên và nhân dân có lúc chưa kịp thời; việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Đảng còn chậm. Phần lớn các Chi bộ trực thuộc chất lượng có nâng lên nhưng chưa đạt yêu cầu, tuy được tập trung củng cố nhưng chậm chuyển biến; kết quả phát triển Đảng viên mới tuy đạt chỉ tiêu Nghị quyết nhưng nhiều Chi bộ có nguồn trung kiên nhưng chưa phát triển được Đảng viên, có Chi bộ ấp không xây dựng được nguồn. Công tác quản lý Đảng viên chưa chặt chẽ, có Đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành không nghiêm nguyên tắc tổ chức của Đảng, pháp luật của Nhà nước bị xử lý kỷ luật, có cấp ủy Chi bộ chưa thực hiện tốt quy chế làm việc.

Nguyên nhân của tình hình trên trước hết là do Đảng ủy, các cấp ủy Chi bộ chỉ đạo tổ chức quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Đảng có lúc thiếu nhạy bén, chưa kịp thời; có cấp ủy viên trách nhiệm chưa cao; năng lực, trình độ của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; việc kiểm tra, xử lý những vấn đề phát sinh thiếu sâu sát; sự phối hợp giữa chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể có mặt còn hạn chế, chưa đồng bộ.

III/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Qua 5 năm tổ chức thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ xã lần thứ I ( nhiệm kỳ 2005 – 2010 ) BCH Đảng bộ xã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

1/ Trong lãnh đạo, luôn nâng cao nhận thức về thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn, từ đó vận dụng phù hợp vào điều kiện của địa phương, đề ra biện pháp tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vận chất, tinh thần của nhân dân.

2/ Tăng cường củng cố, nâng chất lượng các tổ chức Đảng, HĐND, UBND xã, Mặt trận, các đoàn thể từ xã đến ấp; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đủ sức chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

3/ Thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tăng cường quản lý, kiểm tra trên các lĩnh vực, kiên quyết đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và những tiêu cực khác; xây dựng đội ngũ Đảng viên, cán bộ công chức có đủ phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác và ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật.

Trên đây là báo cáo của BCH Đảng bộ khoá I. Trình trước Đại hội xin ý kiến đóng góp của toàn thể Đảng viên trong Đảng bộ.

 Video đại hội Đảng bộ

 Audio đại hội Đảng bộ Tỉnh

Phóng sự ảnh

Xem tất cả hình >>
CÁC KÌ ĐẠI HỘI