Sign In
Đảng bộ Tỉnh
Nhân sự đại hội
Tin tức
Tư liệu Đại hội
Đảng bộ cấp trên cơ sở
Ý kiến đóng góp
Liên hệ
Turn on more accessible mode Skip to main content

Đảng bộ Tỉnh

Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Tỉnh ủy khóa VIII (nhiệm kỳ 2005 - 2010) 

Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Tỉnh ủy khóa VIII (nhiệm kỳ 2005 - 2010)

Thực hiện Hướng dẫn số 21-HD/UBKTTW ngày 11/9/2009 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng nhiệm kỳ 2005 -2010, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh báo cáo kết quả cụ thể như sau:

A- KẾT QUẢ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA TỈNH ỦY

I- Khái quát tình hình chung

Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, dân số 2,5 triệu người với 34 dân tộc, có 06 tôn giáo với trên 60% dân số có đạo; có 11 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, gồm: 9 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố loại II. Tỉnh hiện có 16 đảng bộ trực thuộc, đến tháng 8/2010 có 921 tổ chức cơ sở đảng (gồm 326 đảng bộ và 595 chi bộ cơ sở) với 45.496 đảng viên; có 96,12% ấp, khu phố thành lập chi bộ; trong đó có 104 tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài với 3.358 đảng viên. Chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng so với đầu nhiệm kỳ (năm 2006) được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ của năm 2009 tăng 13,91% (trong đó đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng 1,33%), đảng viên vi phạm tư cách giảm 0,3% và tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh tăng 13,42%, yếu kém giảm 1,11 % so năm 2006.

Trong nhiệm kỳ, tuy gặp nhiều khó khăn thách thức nhưng toàn Đảng, toàn quân và nhân dân tỉnh đã nỗ lực phấn đấu đạt nhiều thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực như duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực và đúng định hướng; hoạt động văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ trên nhiều mặt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; quốc phòng - an ninh được tăng cường và củng cố vững chắc; công tác vận động quần chúng tiếp tục đổi mới, đi vào chiều sâu; công tác xây dựng Đảng đạt nhiều kết quả tích cực, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp uỷ đảng được nâng lên, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, vẫn còn một số mặt khó khăn, hạn chế như sức cạnh tranh của kinh tế, chất lượng và tính bền vững của sự phát triển còn hạn chế; hoạt động xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc phải tập trung giải quyết; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từng lúc, từng nơi còn diễn biến phức tạp; chất lượng hoạt động bộ máy nhà nước trên một số lĩnh vực chưa đồng bộ; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; công tác xây dựng Đảng có mặt chưa đạt yêu cầu,...  đã ảnh hưởng đến tư tưởng, đời sống của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh trong nhiệm kỳ qua.

II- Kết quả lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát

1- Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát

1.1- Việc triển khai, quán triệt nghị quyết, chỉ thị và những quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng

Từ sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2005 - 2010), Tỉnh ủy và các cấp ủy trực thuộc đã triển khai, quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Đại hội X của Đảng và tập trung quán triệt sâu những nội dung về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và tăng cường kỷ luật trong Đảng. Tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt quán triệt Điều lệ Đảng (khoá X), Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31/10/2006 về thi hành Điều lệ Đảng, Quyết định số 25-QĐ/TW ngày 24/11/2006 về “ban hành hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 30/7/2007 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) “về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”, Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” và có kế hoạch triển khai đầy đủ các quyết định, quy định kèm theo hướng dẫn thực hiện của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng với nhiều hình thức; đồng thời chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc quán triệt đến 100% tổ chức cơ sở đảng với trên 97% đảng viên được tham gia học tập, các nghị quyết, quyết định, quy định của Trung ương về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm; về những điều đảng viên không được làm; về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; quy chế chất vấn trong Đảng; về tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng với các tổ chức đảng, ban ngành có liên quan... đều được triển khai, quán triệt kịp thời.

 Nhìn chung, các cấp uỷ đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ  việc xây dựng kế hoạch và kịp thời tổ chức quán triệt học tập các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định, Quy định, Hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh ủy đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, hành động và xác định đầy đủ trách nhiệm trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.

1.2- Việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kế hoạch. của Tỉnh ủy để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát

Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, Tỉnh ủy đã ban hành Quy chế làm việc của cấp mình, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và chế độ làm việc của tập thể Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực Tỉnh ủy; ban hành Quy chế làm việc, đồng thời đã kịp thời sửa đổi, bổ sung,  nhiệm vụ giám sát và một số nội dung phù hợp với tình hình mới đối với hoạt động của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

Nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm cá nhân của các đồng chí cấp ủy viên,  Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành các quy định “về nhiệm vụ, quyền hạn của các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh ủy viên được phân công theo dõi các địa phương và ngành”; “về trách nhiệm của cấp ủy viên, cán bộ chủ chốt trong việc nắm tình hình ở cơ sở, đề xuất ý kiến, tiếp xúc và trả lời các chất vấn của đảng viên và nhân dân”; “về trách nhiệm của cấp ủy viên và đảng viên trong việc xây dựng nghị quyết của cấp ủy và thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình”. Để tăng cường kỷ luật trong Đảng, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát như: thực hiện việc kê khai tài sản; thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; việc “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; “việc thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ”; về “trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, ban hành 13 quy chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng giữa Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy với các ban tham mưu của Tỉnh uỷ, một số Ban cán sự đảng, đảng đoàn và tổ chức đảng, ngành, đơn vị có liên quan; đặc biệt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xây dựng Kế hoạch số 49- KH/TU ngày 29/01/2008 để thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 30/7/2007 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) “về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng” và Kế hoạch số 106-KH/TU ngày 21/5/2009 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về “phòng, chống tham nhũng, lãng phí đến năm 2010”; chỉ đạo Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy xây dựng các hướng dẫn nhằm tạo thuận lợi cho các cấp ủy, tổ chức đảng triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, quy định của Tỉnh ủy. Bên cạnh, các cấp uỷ trực thuộc đã vận dụng, cụ thể hoá các văn bản của cấp uỷ cấp trên để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ ở cấp mình (phụ lục kèm theo).

1.3- Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, kiện toàn tổ chức, bộ máy UBKT và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp

            Trong nhiệm kỳ, Tỉnh ủy và các cấp ủy trực thuộc luôn quan tâm đến việc củng cố, kiện toàn tổ chức, hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp trong tỉnh có đủ biên chế và ngày càng nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, giám sát; chỉ đạo bổ sung kịp thời những nơi còn khuyết ủy viên ủy ban kiểm tra. Đối với cấp cơ sở, 100% tổ chức cơ sở đảng đã bầu đủ số lượng ủy ban kiểm tra nhiệm kỳ 2010 -2015 và đang có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp uỷ và ủy ban kiểm tra cấp uỷ cơ sở sau đại hội. Đến nay, có 15/16 ủy ban kiểm tra các cấp ủy trực thuộc tỉnh có số lượng ủy ban kiểm tra cấp uỷ đủ ( riêng ủy ban kiểm tra Đảng ủy Khối Dân Chính Đảng còn thiếu 01 đồng chí), trình độ cơ bản đáp ứng được yêu cầu. Đối với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã phê duyệt biên chế đủ theo Đề án tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra đến năm 2015 và xác nhận quy hoạch Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và các chức danh chủ chốt của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2010-2015. Đồng thời, 5 năm qua đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 4.616 lượt cán bộ dự học các lớp như: nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát (với 3.355 lượt cán bộ kiểm tra tham dự); lý luận chính trị; các chuyên ngành khác do Trung ương, tỉnh và huyện mở, hầu hết cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng đều phát huy tốt trong công tác, đã góp phần quan trọng việc chuẩn hoá cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. 

1.4- Công tác sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã đề ra, trong nhiệm kỳ qua Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức sơ, tổng kết các nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát như: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII), Nghi quyết 24-NQ/TU (khoá VI) về công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; 09 năm thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về tăng cường công tác kiểm tra của Đảng; 05 năm thực hiện Nghị quyết TW 6 (lần 2) về đẩy mạnh cuộc vận động chỉnh đốn đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí; việc thực hiện Quy định 19-QĐ/TW của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm; sơ kết 03 năm về thực hiện Quy định số 03-QĐ/TU ngày 18/8/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu ở các cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí; 02 năm thực hiện Chỉ thị 34-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; 01 năm về thực hiện Quy định số 02-QĐ/TU ngày 26/02/2008 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm người có chức vụ, quyền hạn ở các cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí (thay thế Quy định số 03-QĐ/TU); sơ kết 02 năm thực hiện công tác kiểm tra, giám sát từ sau Đại hội Đảng lần thứ X đến nay; 02 năm thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TW về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; tổng kết thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương ba (khoá X) về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”,… Qua sơ, tổng kết đã giúp Tỉnh ủy, Ban Thường vụ  Tỉnh ủy đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của các cấp ủy, rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, đề ra những biện pháp khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, xây dựng các giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong thời gian tới.

Ngoài ra, hàng năm định kỳ (quý, 6 tháng, cuối năm) và giữa nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã nghiêm túc kiểm điểm vai trò lãnh đạo, điều hành của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, cho ý kiến báo cáo công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy theo quy chế làm việc; tổ chức tổng kết công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh hàng năm; đồng thời chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc tỉnh sơ, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng ở cấp mình.

2- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát

2.1- Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

Hàng năm, căn cứ chương trình kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ; Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy trực thuộc đều xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp mình. Các đồng chí cấp ủy viên (UVTV, Tỉnh ủy viên) và đại diện các sở, ban, ngành trực tiếp kiểm tra việc lãnh đạo, thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng đối với 100% đảng bộ trực thuộc tỉnh. Kết quả trong nhiệm kỳ, các cấp ủy đã tiến hành kiểm tra 3.021 lượt tổ chức đảng cấp dưới và kiểm tra 17.124 lượt đảng viên, trong đó có 4.558 lượt cấp uỷ viên các cấp chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và về phẩm chất đạo đức, lối sống. Nhìn chung, công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng được các cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao; các tổ chức đảng được kiểm tra và tự kiểm tra đã chấp hành nghiêm nghị quyết, chỉ thị của Đảng, quy chế làm việc của cấp uỷ cấp trên và cấp mình; hầu hết cán bộ, đảng viên thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, những thiếu sót khuyết điểm qua kiểm tra đều được chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.

Việc kiểm tra thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng hàng năm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành tiêu chí cụ thể trên từng lĩnh vực để làm cơ sở đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy trực thuộc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ. Qua đó, giúp các đảng bộ thấy được những khuyết điểm, hạn chế để có hướng khắc phục; đồng thời qua công tác kiểm tra hàng năm là căn cứ để Ban Thường vụ Tỉnh uỷ xem xét quyết định phân loại khen thưởng cuối năm và xét khen thưởng cả nhiệm kỳ cho các đảng bộ trực thuộc tỉnh.

Ngoài việc kiểm tra thường xuyên, các cuộc kiểm tra chuyên đề được Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chú trọng, phân công các ban tham mưu giúp việc của cấp uỷ, các tổ chức đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn có liên quan tiến hành kiểm tra theo kế hoạch của Trung ương, của tỉnh đối với một số địa phương, sở, ngành trực thuộc như: kiểm tra việc tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện quy chế làm việc; quy chế dân chủ ở cơ sở; việc thực hiện Thông báo kết luận số 130-TB/TW về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới; việc thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung ở các lĩnh vực trọng điểm như: thu, chi tài chính và quản lý sử dụng tài sản công, quản lý sử dụng đất đai, bồi thường, giải tỏa, tái định cư; việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên trong tình hình mới; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá X) về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước; thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) về việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hành tiết kiệm trong tiếp nhận, quản lý và phân bổ nguồn tiền ủng hộ, vận động và các hoạt động từ thiện khác đối với một số Đảng đoàn trực thuộc tỉnh,… Qua kiểm tra, cấp ủy và tổ chức đảng các cấp chấp hành nghiêm nghị quyết, chỉ thị của Đảng, thực hiện đúng chỉ đạo Trung ương, của Tỉnh ủy, bám sát mục tiêu, phương hướng và hướng dẫn của cấp trên, của ngành để lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị tại địa phương, đơn vị, ngành mình, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng bộ tỉnh.

2.2- Thực hiện công tác giám sát

Đại hội X của Đảng xác định công tác kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng và Điều lệ Đảng khoá X quy định các cấp uỷ có nhiệm vụ lãnh đạo, thực hiện công tác giám sát; Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo các tổ chức đảng triển khai quán triệt đến chi bộ và toàn thể đảng viên để nghiên cứu thực hiện các quy định, quyết định và hướng dẫn của Trung ương về thực hiện công tác giám sát.

2.2.1- Giám sát thường xuyên

Để lãnh đạo thực hiện tốt Nghị quyết về mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh hàng năm, Tỉnh ủy và các cấp ủy đều xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát của cấp mình; trong nhiệm kỳ Tỉnh uỷ thực hiện nhiệm vụ giám sát thường xuyên đối với hoạt động của Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy thông qua việc nghe báo cáo trong các buổi giao ban, qua các báo cáo định kỳ trong năm và tại các kỳ họp của Tỉnh uỷ và Ban Thường vụ Tỉnh ủy, cho ý kiến chỉ đạo về tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thực hiện Quy chế làm việc của Tỉnh ủy, tình hình thực hiện nhiệm vụ của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, hoạt động của Thường trực Tỉnh uỷ, về công tác tài chính của Đảng, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; phân công trách nhiệm các đồng chí cấp ủy viên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện nhiệm vụ giám sát thường xuyên đối với lĩnh vực, địa bàn được phân công, báo cáo kết quả cho cấp ủy theo định kỳ.

Đặc biệt, trong hoạt động lãnh đạo của cấp uỷ, hàng năm Thường trực Tỉnh ủy đều có chương trình thực hiện giám sát thường xuyên, trực tiếp việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết, tiến độ thực hiện, nhất là những nhiệm vụ trọng tâm, phục vụ cho việc hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác vận động quần chúng và công tác xây dựng Đảng, trong đó chú trọng giám sát các địa phương, ngành ở một số lĩnh vực về tình hình nông nghiệp- nông thôn; phát triển kinh tế trang trại, kinh tế tập thể; việc thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm; các chương trình giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ; tình hình hoạt động của các tổ chức đảng trong doanh nghiệp; tình hình xử lý những vụ việc kéo dài, phức tạp trên địa bàn; việc chuẩn bị các nội dung văn kiện, phương án nhân sự Đại hội các đảng bộ trực thuộc tỉnh.

2.2.2- Giám sát chuyên đề

Thực hiện nghị quyết hàng năm của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp uỷ đã xây dựng chương trình, kế hoạch và thành lập các đoàn giám sát tiến hành giám sát 645 tổ chức đảng trực thuộc và 230 đảng viên, trong đó có 164 cấp uỷ viên các cấp theo từng nội dung, thời gian cụ thể, tập trung về thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’’; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thực hiện quy chế dân chủ ở sơ sở, cơ quan, đơn vị; thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trong cải cách thủ tục hành chính; về công tác cán bộ; bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; lãnh đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các địa bàn trọng điểm; lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; tình hình quản lý, sử dụng các nguồn quỹ tài trợ, vận động từ thiện, nhân đạo và các nguồn ủng hộ khác; việc mua sắm, sử dụng tài sản công; tình hình sinh hoạt chi bộ ở cơ sở; về trách nhiệm của người đứng đầu, những điều đảng viên và cán bộ công chức không được làm, kê khai tài sản...

2.2.3- Việc chỉ đạo các ban của cấp ủy thực hiện nhiệm vụ giám sát

* Đối với các ban của cấp ủy:

Căn cứ Hướng dẫn số 03, 04-HD/UBKTTW ngày 25/7/2007 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thực hiện nhiệm vụ giám sát của các ban của cấp ủy, của ủy ban kiểm tra các cấp; Tỉnh ủy và các cấp ủy trực thuộc đã chỉ đạo các ban của cấp uỷ, ủy ban kiểm tra và văn phòng các cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực công tác của từng ban; chủ trì hoặc tham gia một số cuộc kiểm tra, giám sát của cấp ủy giao, cử cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn tham gia đầy đủ các đoàn kiểm tra, giám sát theo chương trình công tác của ban thường vụ, thường trực cấp ủy; ủy ban kiểm tra các cấp uỷ đã phối hợp các ban và văn phòng cấp uỷ tham mưu cấp uỷ xây dựng chương trình, các kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm; đồng thời phân công các đồng chí trong cấp ủy, lãnh đạo ban theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tổ chức thực hiện việc kiểm tra, giám sát trong cơ quan và các đơn vị trực thuộc về chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình đối với một số chuyên đề thuộc lĩnh vực của từng cơ quan phụ trách. Trong đó, phân công ủy ban kiểm tra của cấp uỷ giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ba (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; giám sát thực hiện Chỉ thị 17-CT/TU thực hiện Thông báo kết luận số 130-TB/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, định kỳ báo cáo kết quả cho Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và ủy ban kiểm tra các cấp ủy đã chủ động tham mưu cấp ủy thực hiện nhiệm vụ giám sát theo chức năng quy định, nhất là giám sát việc khắc phục, sửa chữa các thiếu sót, khuyết điểm sau kết luận kiểm tra.

Nhìn chung, cấp ủy các cấp đã chú trọng và chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, qua triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện đã tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức cũng như trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, các ban của cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở, trong đó xác định được tầm quan trọng của công tác giám sát trong Đảng đã góp phần tích cực cho công tác kiểm tra của Đảng đảm bảo chính xác, đạt hiệu quả cao; đồng thời nhận thức của mỗi cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được nâng lên và thể hiện rõ hơn thái độ, trách nhiệm trong lãnh đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ giám sát chưa nhiều và đồng bộ, có nơi còn lúng túng về quy trình, phương pháp, việc chủ động thực hiện giám sát theo chức năng, nhiệm vụ của từng ban còn ít; nhiều đồng chí cấp ủy viên chưa báo cáo kết quả giám sát theo quy chế và chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy; vẫn còn một vài cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ giám sát, dẫn đến có tâm lý ngán ngại, nể nang, nhất là với đối tượng là cấp ủy viên cùng cấp, là người đứng đầu cấp uỷ cùng cấp.

3- Tình hình chấp hành kỷ luật và việc thi hành kỷ luật trong Đảng

3.1- Tình hình chấp hành kỷ luật trong Đảng

Trong nhiệm kỳ, Trung ương, Tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định để lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với các mặt, các lĩnh vực hoạt động của Đảng, của công tác xây dựng Đảng, trong đó những nội dung có sự tham gia, thực hiện của toàn xã hội như cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, đặc biệt là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã và đang trở thành đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và là cơ sở, chuẩn mực cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh phấn đấu, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, tăng cường ý thức chấp hành kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước.

Hàng năm, các cấp uỷ kiểm tra, giám sát 100% tổ chức cơ sở đảng và đảng viên chấp hành quy định của Điều lệ Đảng, hầu hết tổ chức đảng và đảng viên chấp hành nghiêm chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tập thể lãnh đạo gắn với trách nhiệm cá nhân ngày càng được thể hiện rõ nét; dân chủ trong Đảng được phát huy, quyền và trách nhiệm của đảng viên góp ý, tham gia xây dựng Đảng được tôn trọng; có ý thức giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của người đảng viên, gương mẫu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Qua kiểm tra, các trường hợp vi phạm kỷ luật đảng được xem xét, xử lý nghiêm minh, đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

3.2- Tình hình thi hành kỷ luật trong Đảng

Trong nhiệm kỳ, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và các cấp ủy luôn thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo việc xem xét thi hành kỷ luật trong Đảng phải đảm bảo đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục, nhằm phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, tổ chức đảng trong Đảng bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh. Tính đến nay, qua kiểm tra đảng viên, giải quyết tố cáo, thanh tra, điều tra, tự phê bình và phê bình trong nội bộ đảng, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 23 tổ chức đảng, chiếm 2,50% so tổng số tổ chức cơ sở đảng và giảm 1% so nhiệm kỳ trước; thi hành kỷ luật 1.647 đảng viên chiếm 3,76% so tổng số đảng viên toàn tỉnh, giảm 1,52% so nhiệm kỳ trước; trong đó, Tỉnh uỷ viên là 02, đảng viên là cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý 25; cấp huyện (tương đương) quản lý 375; cấp cơ sở quản lý 1.245. Tỷ lệ đảng viên bị thi hành kỷ luật trên tổng số đảng viên hàng năm đều giảm so từ năm cuối nhiệm kỳ trước, cụ thể: năm 2005 chiếm 1,18%; năm 2006: 1,03%; năm 2007: 0,98%, năm 2008: 0,92% và năm 2009: 0,88%; tuy nhiên, số đảng viên bị thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng và phải xử lý bằng pháp luật còn ở mức cao.

Từ những kết quả trên cho thấy việc chấp hành kỷ luật và việc thi hành kỷ luật trong Đảng được Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và cấp uỷ các cấp coi trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng phương hướng, phương châm và nguyên tắc Đảng, nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm là chính; mặt khác, kiên quyết xử lý hoặc chỉ đạo xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đối với những cá nhân, tổ chức đảng vi phạm, không dung túng, bao che, từ đó có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung, tạo lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng. Tuy nhiên, số vi phạm về tinh thần trách nhiệm và cố ý làm trái chiếm tỷ lệ cao, thuộc lỗi chủ quan của cán bộ đảng viên, nhất là của người đứng đầu vẫn chưa có giải pháp khắc phục, ngăn chặn hữu hiệu. Trong xử lý kỷ luật, việc thực hiện phương châm “công minh, chính xác, kịp thời” ở một số tổ chức đảng có lúc, có mặt còn hạn chế; việc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ giữ cương vị chủ chốt ở địa phương, đơn vị có lúc, có nơi còn biểu hiện nể nang, kéo dài.

III- Đánh giá chung

1- Ưu điểm

Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng được tăng cường và đổi mới, chất lượng, hiệu quả ngày được nâng cao. Các cấp ủy, tổ chức đảng luôn coi trọng việc lãnh đạo, tổ chức triển khai, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương có liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và chỉ đạo cụ thể hoá bằng các nghị quyết, chỉ thị, quy định, chương trình, kế hoạch của cấp mình. Đã lãnh đạo, tổ chức thực hiện toàn diện, đồng bộ nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thường xuyên chỉ đạo kiểm tra, giám sát tập trung có trọng tâm, trọng điểm trên các mặt, các lĩnh vực còn yếu kém, dễ phát sinh tiêu cực, đã góp phần ngăn ngừa, phát hiện và khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; góp phần hạn chế tiêu cực, giảm sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ và trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ. Song song với việc lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, các cấp uỷ qua kiểm tra, giám sát hàng năm đã đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng gắn với lãnh đạo, thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở các đảng bộ trực thuộc, Qua kiểm tra, giám sát kịp thời phê bình, góp ý chấn chỉnh những tổ chức, cá nhân có thiếu sót, khuyết điểm, đồng thời khen thưởng, biểu dương những đảng bộ có thành tích cao. Từ đó, đã thúc đẩy việc hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu nghị quyết năm của toàn Đảng bộ; giúp sự lãnh đạo của Tỉnh ủy được sâu sát, toàn diện và hiệu quả hơn, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị chung, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa VIII, nhiệm kỳ 2005-2010.

* Nguyên nhân ưu điểm:

Sự đoàn kết nhất trí cao trong nội bộ Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy và các cấp uỷ đảng trong toàn Đảng bộ, trong quá trình lãnh đạo đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc; xây dựng được chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát toàn diện, cụ thể sâu sát phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Thường xuyên quan tâm công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở các cấp để có chỉ đạo kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và tồn tại yếu kém, nhất là từ cơ sở.

Sự chủ động, tích cực của các ban tham mưu, giúp việc của cấp uỷ, nhất là cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp, sự nỗ lực của cán bộ làm công tác kiểm tra, qua đó đã giúp cho công tác kiểm tra, giám sát thực hiện có chất lượng, hiệu quả.

2- Khuyết điểm:

Bên cạnh những ưu điểm, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy trong nhiệm kỳ cũng còn một số khuyết điểm, hạn chế: Việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát ở một số cấp ủy, có lúc, có việc chưa được thường xuyên, sâu sát. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tuy được các cấp uỷ tăng cường chỉ đạo, song vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước chưa được phát hiện, ngăn chặn kịp thời; có những vụ việc sai phạm nghiêm trọng, bị xử lý pháp luật, đã ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp; có vụ việc đã được kết luận, kiểm điểm nhưng dây dưa, kéo dài chậm xử lý; còn một số cấp uỷ, cấp uỷ viên, thiếu kiểm tra, ít sâu sát cơ sở; công tác giáo dục, quản lý đảng viên có nơi chưa chặt chẽ, tình trạng nể nang, thiếu tính chiến đấu trong sinh hoạt nội bộ Đảng vẫn tồn tại trong cấp ủy và tổ chức đảng, dẫn đến hạn chế kết quả lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị.

* Nguyên nhân khuyết điểm:

Sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của một số cấp ủy đảng, tổ chức đảng và người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm, chưa thường xuyên kiểm tra đôn đốc để xử lý kịp thời những vấn đề vướng mắc, phát sinh trong quá thực hiện; việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát ở một vài cấp uỷ, tổ chức đảng còn buông lơi, chưa tập trung đúng mức, chưa xác định đầy đủ trách nhiệm của mình trong lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ; công tác tự kiểm tra, tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng còn yếu, sợ đụng chạm; trình độ chính trị, chuyên môn, tinh thần thái độ làm việc của một bộ phận cán bộ đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

* Bài học kinh nghiệm:

1- Các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vai trò, vị trí và tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát; phải xem đó là trách nhiệm của chính mình, có nhận thức đúng mới xác định được trách nhiệm, mới có quyết tâm để lãnh đạo, chỉ đạo và làm tốt công tác kiểm tra, giám sát; phải đầu tư nghiên cứu và nắm vững những quy định của Đảng, hướng dẫn của cấp trên về nguyên tắc, quy trình, nội dung thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò chủ động của uỷ ban kiểm tra các cấp trong việc xây dựng và tham mưu cấp uỷ cùng cấp xây dựng chương trình, thực hiện  kế hoạch kiểm tra kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và của cấp mình để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, không bị động trước tình hình, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của đảng bộ.

2- Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát có sự linh hoạt, nhạy bén, vận dụng sáng tạo nhưng bảo đảm các nguyên tắc, quy trình của Đảng, quy chế làm việc; phát huy dân chủ nội bộ, trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân phụ trách; khen thưởng kịp thời những tổ chức đảng, đảng viên có thành tích xuất sắc, đồng thời phê bình, xử lý nghiêm minh những địa phương, đơn vị, người đứng đầu có khuyết điểm, vi phạm qua công tác kiểm tra, từ đó khơi dậy những nhân tố tích cực, thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ.

3- Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xây dựng được đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, có tâm huyết trách nhiệm được phân công; kết hợp với việc đánh giá cán bộ hàng năm để nắm chắc năng lực, trình độ cán bộ, tham mưu cho cấp ủy bố trí, sử dụng cán bộ đủ uy tín, năng lực thực tiễn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ thì nơi đó có khả năng thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao, ít xảy ra sai phạm.

4- Các cấp uỷ quan tâm ban hành các quy chế làm việc và quy chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ giữa các ban của cấp uỷ, tổ chức đảng, ban ngành có liên quan để tạo sự gắn kết, phối hợp đồng bộ, có hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ của ngành và của cấp ủy giao; lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên việc sơ, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng để kịp thời rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn.

B- PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT NHIỆM KỲ TỚI (2010-2015)

Với những thành tựu đạt được trong 5 năm qua, những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Đảng bộ; thời gian tới, tỉnh còn đối mặt với những khó khăn, thách thức lớn trên các mặt có tác động, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; để tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới (2010-2015), Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra một số phương hướng nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát chủ yếu sau đây:

1- Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu

Tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; các cấp uỷ, tổ chức đảng chú trọng lãnh đạo, thực hiện thường xuyên nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chấp hành nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, việc giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ đảng viên; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

2- Một số giải pháp cơ bản

2.1-  Tiếp tục chỉ đạo quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số   14-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng” và kết luận số 72-KL/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020”. Triển khai, quán triệt sâu Điều lệ Đảng, nghị quyết, các chỉ thị, quy định, quyết định của Đảng, của cấp uỷ về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng nhiệm kỳ 2010 -2015 và Thông báo số 226-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhất là sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX. Từ đó, nâng cao nhận thức và vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, cán bộ chủ chốt ở từng cấp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

2.2- Xây dựng và chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc xây dựng  chương trình kiểm tra, giám sát toàn khoá, đồng thời hàng năm phải xây dựng  chương trình, kế hoạch cụ thể và tổ chức kiểm tra, giám sát có trọng tâm, sát với yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương, đơn vị; tăng cường giám sát việc khắc phục những sai phạm sau kết luận thanh tra, kiểm tra; đề cao việc tự kiểm tra của cấp uỷ, tổ chức đảng và đảng viên, xác định đúng đắn trách nhiệm, nhất là người đứng đầu  thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của các ban đảng và làm tốt chức năng tham mưu, giúp cấp uỷ lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng quy định, đồng thời phối hợp chặt chẽ với uỷ ban kiểm tra và các cơ quan có chức năng theo quy chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng để tổ chức thực hiện đồng bộ, đạt hiệu quả cao.

2.3- Chỉ đạo và tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nội bộ Đảng; đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; việc cải cách hành chính, cải cách tư pháp; kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; thực hiện Quy định của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm; chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao. Tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để chủ động phòng ngừa, hạn chế những sai phạm xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ gắn với đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; kiên quyết xử lý và chỉ đạo xử lý nghiêm minh các trường hợp đảng viên, tổ chức đảng vi phạm, giữ gìn kỹ cương, kỷ luật, góp phần làm trong sạch, vững mạnh nội bộ Đảng.

2.4- Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của ủy ban kiểm tra; kiện toàn, củng cố bộ máy uỷ ban kiểm tra và cơ quan uỷ ban kiểm tra các cấp trong tỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển đội ngũ cán bộ kiểm tra, qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao kiến thức, năng lực thực tiễn, có đủ khả năng, điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trong giai đoạn mới.

Trên đây là báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VIII (nhiệm kỳ 2005-2010) và phương hướng nhiệm vụ chủ yếu về công tác kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ tới (2010-2015).

  • Báo cá tình hình thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng nhiệm kỳ 2005-2010 - 25/09/2010
  • Báo cáo kết quả thực hiện 12 chương trình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010 - 25/09/2010
  • Báo cáo Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006-2010 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015 - 25/09/2010
  • Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) - 25/09/2010
  • Báo cáo tổng kết công tác tư tưởng chính trị thực hiện Nghị quyết - 25/09/2010
  • Báo cáo sơ kết 9 tháng đầu năm 2010 và đánh giá tổng quát 3 năm rưỡi thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - 25/09/2010
  • Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2005 – 2010 (khóa VIII) - 24/09/2010
  •  Video đại hội Đảng bộ

     Audio đại hội Đảng bộ Tỉnh

    Phóng sự ảnh

    Xem tất cả hình >>
    CÁC KÌ ĐẠI HỘI