Sign In
Đảng bộ Tỉnh
Nhân sự đại hội
Tin tức
Tư liệu Đại hội
Đảng bộ cấp trên cơ sở
Ý kiến đóng góp
Liên hệ
Turn on more accessible mode Skip to main content

Đảng bộ Tỉnh

Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) 

Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)

Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Công văn số 9847-CV/VPTW ngày 01/7/2010 của Văn phòng Trung ương Đảng, Kế hoạch số 01/KH-BCĐ ngày 03/8/2010 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng về “tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng nhiệm kỳ 2006-2010” và Kế hoạch số 106-KH/TU ngày 21/5/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc “thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về phòng, chống tham nhũng, lãng phí từ nay đến năm 2010”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, như sau:

A- TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 04-NQ/TW NGÀY 21/8/2006 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA X) (GỌI TẮT LÀ NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 3 (KHÓA X))

I- Đặc điểm tình hình

Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, diện tích 5.903,940 km2, dân số khoảng 2.550.000 người. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó 01 thành phố loại II, 01 thị xã và 9 huyện. Nằm trên đầu mối giao thông quan trọng của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai có nhiều điều kiện thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy và đường hàng không, nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước, đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam bộ với Tây Nguyên. Mặt khác, tỉnh có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú.

Đồng Nai là một trong những địa bàn thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ. Đến nay, tỉnh có 29 khu công nghiệp được thành lập, với 1.062 dự án đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký là 18,787 tỷ USD, thu hút gần 366.000 người lao động trong và ngoài tỉnh. Đảng bộ tỉnh có 16 đảng bộ trực thuộc, 4 ban cán sự đảng và 919 tổ chức cơ sở đảng (325 đảng bộ cơ sở và 594 chi bộ cơ sở; với 2900 chi bộ trực thuộc) với 44.908 đảng viên.

Sau khi có Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí”, Tỉnh ủy, UBND tỉnh xác định đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, đã kịp thời ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp về phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Từ đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên địa bàn tỉnh đạt được một số kết quả nhất định. Đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về nguy cơ tham nhũng, lãng phí. Công tác thanh tra, kiểm tra về phòng, chống tham nhũng được đề cao; các vụ việc tham nhũng phát hiện được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, đã hạn chế và từng bước đẩy lùi tệ tham nhũng trên địa bàn tỉnh, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, cải thiện môi trường đầu tư và duy trì được tốc độ phát triển cao về kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm qua.

Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo vẫn còn một vài cấp ủy cơ sở đảng, chính quyền, địa phương chưa thực sự chú trọng công tác phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là công tác tự kiểm tra nội bộ để ngăn ngừa, xử lý tham nhũng; việc triển khai, quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng đôi khi chưa thường xuyên, còn có mặt hạn chế; công tác cải cách hành chính tuy có nhiều cải tiến song có nơi vẫn còn chậm, tính chiến đấu của một số ít đảng viên chưa cao, chưa phát huy tốt vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

II- Những kết quả đạt được

1- Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X)

Sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; ngày 29/12/2006, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Chương trình hành động số 23- CTr/TU về việc thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW và tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh mở rộng để quán triệt, triển khai thực hiện, có 210 đồng chí tham dự, thành phần là các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; thường trực các cấp ủy trực thuộc; bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn; lãnh đạo các ban đảng Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ban, ngành trong tỉnh và các đồng chí Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy. Ngày 07/02/2007, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 30-KH/TU triển khai thực hiện; đồng thời chỉ đạo       cơ quan chức năng cung cấp đĩa VCD ghi nội dung Nghị quyết số 04-NQ/TW và các chuyên đề về Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, để các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh tổ chức triển khai quán triệt, tuyên truyền, giáo dục trong đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân. Ngày 21/5/2009, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Kế hoạch số 106-KH/TU về việc “thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về phòng, chống tham nhũng, lãng phí từ nay đến năm 2010”, nhằm tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ, có hiệu quả hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Đến nay, 100% cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, tổ chức cơ sở đảng đã hoàn thành việc tổ chức triển khai quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cho 2.415 cán bộ chủ chốt, 108.307 lượt đoàn viên, hội viên và 41812 đảng viên tham dự. Sau khi quán triệt, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh đã khẩn trương xây dựng Chương trình hành động và tổ chức triển khai thực hiện. Đến tháng 6/2010, có 902/919 tổ chức cơ sở đảng đã xây dựng chương trình hành động hoặc kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X), đạt 98,15%; còn 17 đơn vị chưa xây dựng chương trình hành động (do các đơn vị chia tách, sáp nhập và thành lập mới).

2- Việc thực hiện các chủ trương, giải pháp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X)

2.1- Công tác tuyên truyền, giáo dục và công tác truyền thông về phòng, chống tham nhũng, lãng phí gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Xác định cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một trong những giải pháp thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số        04-NQ/TW; ngày 12/01/2007, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quyết định số 162-QĐ/TU về việc thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận động. Ban Chỉ đạo đã xây dựng kế hoạch triển khai và hướng dẫn thực hiện trong toàn Đảng bộ tỉnh; bồi dưỡng 08 chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho lực lượng báo cáo viên tỉnh, huyện; biên soạn tài liệu học tập; phát hành đĩa DVD đến cơ sở. Đồng thời, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc tỉnh thành lập Ban chỉ đạo và xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện tại địa phương, đơn vị. Tính đến tháng 06/2010, 100% cấp ủy và tổ chức cơ sở đảng trong toàn tỉnh đã tổ chức quán triệt, học tập các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho đảng viên, đoàn viên, hội viên, quần chúng cốt cán. Qua kiểm tra tình hình thực hiện các bước của cuộc vận động, các cấp ủy, tổ chức đảng đã cơ bản tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động, đảm bảo trình tự các bước theo chỉ đạo của tỉnh. Quá trình thực hiện các bước, các cấp ủy đã tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện, rút ra bài học kinh nghiệm và bổ sung các giải pháp thực hiện tốt hơn. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng phối hợp cùng lãnh đạo, cơ quan, đơn vị tiến hành xây dựng chương trình hành động, giải pháp phù hợp làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; sửa đổi lối làm việc và tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X). Để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; Quyết định số 43/2006/QĐ-UBND ngày 22/5/2006 về Chương trình hành động của UBND tỉnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quyết định số 12/2007/QĐ-UBND ngày 05/02/2007 của UBND tỉnh về Chương trình hành động thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng; đến nay, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến việc tổ chức thực hiện, bảo vệ, khen thưởng người phát hiện tham nhũng và đưa kiến thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng vào nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, chỉ đạo các sở, ban, ngành và các đơn vị, địa phương trực thuộc tỉnh tổ chức học tập, quán triệt trong đảng viên, cán bộ, công chức và quần chúng, xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện và đề ra các biện pháp, giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí phù hợp.

Trong những năm qua, các cơ quan ngôn luận của tỉnh đã đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phản ánh hoạt động của hệ thống chính trị trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thông qua các chuyên mục, chuyên trang, phóng sự đã phản ánh những gương tốt, những điển hình tổ chức và cá nhân trong việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đồng thời, chỉ ra những yếu kém trong hoạt động quản lý Nhà nước, những hạn chế của hệ thống chính trị. Qua đó, đã tạo sự chuyển biến về nhận thức, đề cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên địa bàn. Riêng các cấp ủy, địa phương đều có chương trình truyền thanh tuyên truyền về pháp luật phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhằm nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân. Ngoài ra, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở các địa phương, đơn vị đã tổ chức lồng ghép triển khai, phổ biến chủ trương, quan điểm của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) cho cán bộ, đảng viên và nhân dân được biết. Trường Chính trị tỉnh đã đưa nội dung Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng đảng viên, cán bộ, công chức hàng năm; đồng thời, phát hành tài liệu “Hỏi, đáp về phòng, chống tham nhũng” để phục vụ việc quán triệt, triển khai ở các địa phương, cơ quan, đơn vị.

2.2- Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; vai trò của chi bộ trong quản lý, giáo dục đảng viên

Nội dung phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm được các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể đưa vào Nghị quyết và kế hoạch thực hiện theo định kỳ. Các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã phát động đảng viên, cán bộ, công chức đăng ký thi đua và thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Cuối năm, tiến hành đánh giá đảng viên, cán bộ, công chức gắn với biểu dương, khen thưởng những cá nhân có thành tích tốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hành tiết kiệm. Kiểm điểm, phê bình và xử lý nghiêm những cá nhân vi phạm; công khai kết quả kiểm điểm tự phê bình và phê bình của đảng viên và kết quả phân tích chất lượng tổ chức đảng, đảng viên cho quần chúng tham gia góp ý kiến. Từ đó, đã tạo điều kiện cho các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, ban, ngành, đảng viên và cán bộ, công chức phát huy dân chủ, thể hiện thái độ, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, đánh giá đúng chất lượng của tổ chức đảng và đảng viên qua phân loại cuối năm, để kịp thời phát hiện và đấu tranh ngăn ngừa vi phạm tham nhũng, lãng phí.

2.3- Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về công tác cán bộ phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí:

- Việc bảo đảm công khai, dân chủ trong tuyển dụng, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ:

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành một số văn bản như: Quy định số   01-QĐ/TU ngày 23/7/2007 về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, Quyết định số 166-QĐ/TU ngày 31/5/2007 ban hành tiêu chí đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy trong thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU, Quyết định số 270-QĐ/TU ngày 12/12/2007 về ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa VIII). Thực hiện việc tuyển dụng công chức bằng hình thức thi tuyển công khai; việc quy hoạch, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ đảm bảo đúng nguyên tắc, quy trình nhằm phòng ngừa tham nhũng, lãng phí; không đề bạt, bổ nhiệm những người có hành vi tham nhũng, lãng phí.

- Thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức và sắp xếp bộ máy:

Thực hiện Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ về việc chuyển đổi vị trí cán bộ, công chức, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch số 7093/KH-UBND ngày 29/8/2008 để tổ chức triển khai và thực hiện đến các địa phương, đơn vị. Kết quả có 19/20 sở, ban, ngành tỉnh, 11/11 huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh, doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác 451/473 người, đạt tỷ lệ 94,5%. Riêng các đơn vị thuộc ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh chuyển đổi được 747 cán bộ, công chức, viên chức.

- Việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng, lãng phí:

Trong nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã sơ kết 03 năm thực hiện Quy định số 03-QĐ/TU ngày 18/8/2003 về “trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu ở các cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Để phù hợp tình hình, yêu cầu nhiệm vụ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quy định số 02-QĐ/TU ngày 26/02/2008về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hành tiết kiệm” (thay thế Quy định số 03-QĐ/TU). Quy định trên đã được triển khai quán triệt đến tất cả cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên trong tỉnh. Từng cấp ủy, tổ chức đảng đều xây dựng kế hoạch thực hiện và hầu hết đã tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện Quy định số 02-QĐ/TU. Nhìn chung, Bí thư cấp ủy, thủ trưởng các cấp, các ngành đã nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc kiểm tra, giám sát đảng viên, cán bộ, công chức khi thực thi công vụ. Sau hơn 02 năm thực hiện Quy định số 02-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã có tác dụng tốt, tạo được sức mạnh trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; nhiều vụ việc vi phạm của đảng viên và người đứng đầu có liên quan đến tham nhũng được phát hiện, xử lý kịp thời; kể cả xử lý nghiêm đối với đảng viên là người đứng đầu để cơ quan, đơn vị mình xảy ra tham nhũng, lãng phí…

- Việc thực hiện quyền tự chủ về tài chính, biên chế và giao khoán kinh phí hoạt động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị có đủ điều kiện; thực hiện việc trả lương qua tài khoản:

Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể chủ động xây dựng Đề án thực hiện khoán biên chế, kinh phí quản lý và sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước đúng mục đích, có hiệu quả và tiết kiệm. Đồng thời, gắn với việc đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tham gia giám sát việc quản lý và sử dụng kinh phí, tài sản công, hạn chế tình trạng lãng phí. Một số nơi tiết kiệm được nhiều khoản chi tiêu cho ngân sách Nhà nước và tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công chức bình quân từ 200.000 đồng đến 400.000đồng/tháng/người.

 Tính đến nay, các đơn vị hành chính và khối đảng cấp tỉnh, huyện đã thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP. Đối với khối tỉnh, 147/147 đơn vị sự nghiệp đã thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính; khối huyện đã giao cho tất cả các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Riêng khối xã, phường, thị trấn và một vài hội thuộc huyện chưa được giao tự chủ về biên chế, kinh phí quản lý hành chính và sự nghiệp công.

Các khoản chi tiếp khách, hội nghị đã giảm đáng kể qua các năm do các khoản chi đã được đơn vị đưa vào quy chế chi tiêu nội bộ. Các hội nghị được tổ chức đơn giản, gọn và có ý nghĩa, không phô trương hình thức thực hiện đúng theo Quyết định số 114/QĐ-TTg ngày 25/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy định chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước.

Chấp hành Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam; Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 42/CT-UBND ngày 20/12/2007 chỉ đạo triển khai thực hiện. Đến nay, tỉnh đã triển khai thực hiện chi trả lương qua tài khoản cho đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức của khối tỉnh và thành phố Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu (thị trấn Vĩnh An và các cơ quan, ban, ngành của huyện) và đang có kế hoạch triển khai cho tất cả các đối tượng hưởng lương từ ngân sách ở tất cả các lĩnh vực trên toàn tỉnh.

- Tổ chức hướng dẫn và triển khai việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên, công chức:

Trên cơ sở Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ, Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13/11/2007 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ, Thanh tra tỉnh phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy hướng dẫn và triển khai việc kê khai tài sản, thu nhập cho các đối tượng kê khai theo quy định và tổ chức việc kê khai từ năm 2007. Kết quả tổng số cơ quan, đơn vị và số người thuộc diện phải kê khai năm sau tăng hơn so năm trước: năm 2007 có 990 đơn vị với 5.188 người; năm 2008 có 1.210 đơn vị với 9.049 người (trong đó số người kê khai lần đầu là 4.724); năm 2009 có 1.233 đơn vị (số người kê khai lần đầu là 3.700).

Nhìn chung, việc kê khai tài sản, thu nhập của các đơn vị, cá nhân thuộc diện phải kê khai trong thời gian qua nhiều nơi thực hiện tiến độ còn chậm theo quy định, phải đôn đốc nhắc nhở nhiều lần. Bên cạnh việc kê khai theo mẫu còn nhiều nội dung không phù hợp hoặc khó thực hiện nên Tỉnh ủy chỉ đạo các ban tham mưu của Tỉnh ủy phối hợp các cơ quan chức năng vận dụng, cụ thể hóa những nội dung sát với thực tế để hướng dẫn trong toàn tỉnh. Trong năm 2009, qua kiểm tra UBND tỉnh đã phê bình 24 lãnh đạo của 09 địa phương, đơn vị chưa phát huy vai trò trách nhiệm của người đứng đầu trong việc chỉ đạo, triển khai thực hiện kê khai tài sản, thu nhập không đảm bảo thời gian theo quy định. Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu nhiệm vụ tham mưu cấp ủy về công tác cán bộ và công tác kiểm tra, giám sát, Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy hàng năm đều theo dõi việc kê khai tài sản, thu nhập đối với các đồng chí Tỉnh ủy viên, đảng viên là cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý.

- Việc xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức; quy định việc tặng quà và nhận quà, việc từ chối nhận quà tặng và tự giác giao nộp cho cơ quan thẩm quyền:

            Thực hiện Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/02/2007 của Bộ Nội vụ, UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo quán triệt, triển khai và yêu cầu tất cả cán bộ, công chức cam kết thực hiện như: Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức; quy định về cấm sử dụng công quỹ làm quà tặng, chiêu đãi, tiếp khách, hội nghị phí không đúng quy định; quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; quy định cấm uống rượu, bia trong ngày, giờ làm việc, không hút thuốc lá nơi công sở. Qua thực hiện, các ngành, các cấp bước đầu đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Thực hiện Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện. Kết quả từ khi triển khai thực hiện, các địa phương, đơn vị thực hiện nghiêm túc việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Đến nay, trên địa bàn tỉnh không có trường hợp vi phạm sử dụng tiền ngân sách để mua quà tặng hoặc nhận quà tặng không đúng quy định.

2.4- Về bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị

UBND tỉnh đã có Công văn số 4686/UBND-NC ngày 16/6/2009 tiếp tục chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện tốt việc thông báo công khai cho nhân dân biết việc thực hiện nhiệm vụ, các chỉ tiêu kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, việc thu, chi ngân sách, thu các quỹ xã hội huy động trong nhân dân, việc quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch quản lý đất công, thu hồi các đất công bị lấn chiếm, các công trình xã hội hóa giao thông…để nhân dân bàn bạc quyết định. Các khoản thu, chi tài chính ngân sách Nhà nước đều thực hiện qua Kho bạc Nhà nước, các khoản đóng góp của dân để xây dựng cơ sở hạ tầng, xã hội hóa giáo dục, quỹ xóa đói, giảm nghèo, quỹ phòng, chống bão, lụt…theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng đều thực hiện đúng mục đích. Việc công khai tài chính các khoản thu, chi của đơn vị, địa phương được chú ý hơn nên đã hạn chế các thắc mắc, khiếu kiện trong việc sử dụng nguồn thu này. Từng cơ quan, đơn vị thực hiện niêm yết công khai các thủ tục hành chính, nội quy tiếp công dân, lịch tiếp công dân….

 2.5- Thực hiện các quy định về quản lý kinh tế, xã hội phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

- Về công tác cải cách hành chính:

Ngày 19/3/2007, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 19/2007/QĐ-UBND về Chương trình cải cách hành chính tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010.   Thực hiện Đề án 30 của Chính phủ, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch số 713/KH-UBND ngày 30/01/2009 về thực hiện rà soát thủ tục hành chính, Kế hoạch số 6641/KH-UBND ngày 18/8/2009 về thực hiện rà soát thủ tục hành chính; đồng thời, chỉ đạo tổ chức tập huấn, triển khai thực hiện công tác thống kê, rà soát thủ tục hành chính cho tất cả các sở, ngành tỉnh, 11 đơn vị cấp huyện và 171 đơn vị cấp xã. Đến nay, UBND tỉnh đã ký quyết định công bố bộ thủ tục hành chính 3 cấp (cấp tỉnh: 983 thủ tục, cấp huyện: 276 thủ tục và cấp xã: 150 thủ tục).

Việc thực hiện cơ chế một cửa: hiện có 19/20 đơn vị cấp Sở, ban, ngành tỉnh; 11/11 huyện, thị xã, thành phố và 171/171 đơn vị cấp xã thực hiện “cơ chế một cửa”. Ngoài ra, một số đơn vị tiếp tục nâng cao việc kết hợp thực hiện ISO với cơ chế một cửa làm tăng hiệu quả trong giải quyết công việc. Đối với cấp xã, việc thực hiện cơ chế một cửa được các địa phương quan tâm thực hiện, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ công tác, việc công khai thủ tục hành chính, giải quyết hồ sơ có nhiều tiến bộ hơn so với những năm trước. Về thực hiện cơ chế một cửa liên thông: cấp tỉnh đã thực hiện được một số lĩnh vực như: việc giải quyết các thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp dấu đối với doanh nghiệp, cấp giấy phép quảng cáo, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, tổ chức tôn giáo và người nước ngoài; đối với cấp huyện: thực hiện trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở cho hộ gia đình từ cấp xã đến cấp huyện.

- Về công tác quản lý và sử dụng đất đai:

Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 đồng bộ ở cả 3 cấp; quy hoạch khai thác và sử dụng khoáng sản đến năm 2010 và định hướng 2020; tiết kiệm, chống lãng phí trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất được thực hiện cơ bản theo đúng quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng đất ở nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị cấp huyện, phường, xã, thị trấn còn yếu kém, chưa phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý đất đai.

Trên lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, khoáng sản: từ năm 2006 đến 06 tháng đầu năm 2010, đã tiến hành thanh tra 222 cuộc, trong đó 145 cuộc thanh tra định kỳ, 77 cuộc thanh tra đột xuất. Tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban hành 660 quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với 660 đơn vị, với tổng số tiền là 4,2 tỷ đồng. Từ năm 2006 đến năm 2008, đã rà soát, kiểm tra sau khi giao đất, cho thuê đất là 532 dự án, trong đó triển khai chậm là 29 dự án, tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi 35 dự án (556,52 ha), hủy bỏ 133 dự án quy hoạch, gia hạn thời gian sử dụng đất 26 dự án.

- Về công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản:

UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng của tỉnh công khai, minh bạch các thủ tục về cấp giấy chứng nhận kinh doanh, phí và lệ phí đối với các thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ dự án đầu tư, hồ sơ đấu thầu, phí và lệ phí thẩm định hồ sơ đấu thầu. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp nắm bắt trình tự, thủ tục, mức phí và lệ phí phải đóng cho từng thủ tục, tránh được tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

+ Công tác tổ chức đấu thầu thực hiện đúng theo quy định của Luật Đấu thầu và Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ, lựa chọn nhà thầu, tổ chức tư vấn giám sát thực hiện dự án đầu tư, tổ chức đấu thầu công khai và thông báo rộng rãi trên trang thông tin đấu thầu của Sở Kế hoạch-Đầu tư. Qua đó, đã tiết kiệm được 143.996 triệu đồng.

+ Tiết kiệm trong thẩm định dự án đầu tư, thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành được các ngành của tỉnh tham mưu xem xét tính toán chặt chẽ, các dự án đảm bảo đúng quy hoạch, hiệu quả tài chính, quy mô đầu tư. Qua đó, đóng góp nhiều ý kiến xác đáng nâng cao hiệu quả đầu tư và tránh đầu tư lãng phí; đã tiết kiệm được 36.118 triệu đồng.

- Về hoạt động mua sắm công và công tác thu, chi ngân sách

+ Về mua sắm tài sản công: UBND tỉnh thực hiện nghiêm việc mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, ô tô (xe công) từ các nguồn hàng được sản xuất trong nước (trừ trường hợp các loại tài sản, vật tư, trang thiết bị mà hiện tại trong nước chưa sản xuất được) theo Chỉ thị số 21/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về sử dụng ngân sách Nhà nước trong mua tài sản, vật tư, trang thiết bị xây dựng trụ sở cơ quan và phục vụ cho công tác quản lý hành chính Nhà nước.

+ Việc chuyển đổi, sắp xếp, sử dụng hợp lý các trụ sở hiện có cho các đơn vị mới thành lập và sử dụng trụ sở làm việc theo đúng tiêu chuẩn, định mức do Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính quy định tại Quyết định số 20/1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 về việc “ban hành quy chế quản lý, sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp”: đã khắc phục được tình trạng lãng phí trong việc xây dựng vượt tiêu chuẩn, định mức sử dụng quỹ đất.

+ Tình hình công tác quản lý thu, chi ngân sách trên địa bàn: nhằm kiềm chế lạm phát, Bộ Tài chính có Thông tư số 34/2008/TT-BTC ngày 23/4/2008 và Quyết định số 271/QĐ-BTC ngày 23/4/2008 hướng dẫn triển khai việc quản lý, sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên và 50% tăng thu ngân sách địa phương. UBND tỉnh đã chỉ đạo cho ngành Tài chính tổ chức triển khai cho tất cả đơn vị của tỉnh và ngân sách cấp huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa. Qua đó, đã tiết kiệm 10% cho chi thường xuyên trên toàn tỉnh từ năm 2008 đến hết năm 2010 để thực hiện việc cải cách tiền lương là: 271.726 triệu đồng.

3- Việc lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết tố cáo và công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng

3.1- Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, việc tiếp nhận và xử lý đơn, thư tố cáo tham nhũng, lãng phí; việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên (tính từ đầu năm 2007)

Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo thực hiện nghiêm Chỉ thị số 17-CT/TU ngày 03/12/2002 “về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra của các tổ chức đảng trong thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân” và định kỳ có báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Các cấp ủy, chính quyền địa phương đã phát huy vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo đúng trình tự, thủ tục quy định.

- Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, việc tiếp nhận và xử lý đơn, thư tố cáo tham nhũng, lãng phí:

 Cấp ủy, chính quyền các cấp đã xác định được trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác tiếp dân. Nhiều nơi tiếp công dân ở các địa phương, đơn vị được bố trí thuận tiện và cơ bản đảm bảo điều kiện để người dân đến phản ảnh như: công khai lịch tiếp dân; phân công, bố trí cán bộ trực thường xuyên để tiếp dân; phần lớn cán bộ tiếp dân thể hiện được thái độ trách nhiệm trong việc tiếp đón, hướng dẫn người dân thực hiện trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo.

Toàn tỉnh đã tiếp nhận 5.461 đơn: trong đó có 4.843 đơn khiếu nại, 434 đơn tố cáo (có 13 đơn tố cáo liên quan đến tham nhũng, lãng phí) và 184 đơn tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền các cấp, các ngành. Đã giải quyết 5.023 đơn, đạt tỷ lệ giải quyết chung là 92%, trong đó 4.446 đơn khiếu nại, 416 đơn tố cáo và 161 đơn tranh chấp đất đai. Trong 416 đơn tố cáo đã giải quyết (có 11 đơn tố cáo liên quan tham nhũng), kết quả có 40 đơn tố cáo đúng (01 đơn tố cáo về tham nhũng), 92 đơn tố cáo có đúng, có sai (02 đơn tố cáo về tham nhũng), 167 đơn tố cáo sai (08 đơn tố cáo về tham nhũng). Đã xử lý kỷ luật hành chính đối với 27 cán bộ, công chức bằng các hình thức: khiển trách 15, cảnh cáo 06 (01 trường hợp về tham nhũng), giáng cấp bậc 01, hạ bậc lương 01 (liên quan tham nhũng), cách chức 01, buộc thôi việc 03; kiểm điểm trách nhiệm đối với 18 cán bộ có sai phạm nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật.

Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, đã thu hồi cho ngân sách Nhà nước 2.078 triệu đồng, công nhận quyền sử dụng đất cho dân 102,49m2 đất, giao trả cho dân 226,75 triệu đồng và 103.912m2 đất, hòa giải giữa các bên giao trả cho nhau 585m2 đất và 517 triệu đồng, bồi thường bổ sung cho dân 6.828 triệu đồng và 314.157m2 đất nông nghiệp, 134m2 đất thổ cư, 07 lô tái định cư và một số tài sản khác.

 - Việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên:

+ Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng:

Tổng số phải giải quyết 10 thư, tố cáo 10 tổ chức đảng; đã giải quyết 10/10 thư (đạt 100%) với nội dung bao che, trù dập, việc ra quyết định và thực hiện quyết định, đoàn kết nội bộ, nguyên tắc tập trung dân chủ.... Kết quả giải quyết: tố cáo sai 02 trường hợp; tố cáo đúng và đúng một phần 07, chưa có cơ sở kết luận 01 trường hợp.

+ Giải quyết tố cáo đối với đảng viên:

Tổng số phải giải quyết 331 trường hợp, ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành giải quyết theo thẩm quyền 321 trường hợp, đạt tỷ lệ 96,97%. Kết quả giải quyết: tố cáo đúng và đúng một phần 197 trường hợp (chiếm 61,94%), trong đó thi hành kỷ luật 72/321 (chiếm 22,4%); tố cáo sai 96 trường hợp (chiếm 29,9%); không đủ cơ sở kết luận 28 trường hợp (chiếm 8,7%). Nội dung tố cáo: vi phạm phẩm chất, lối sống 103; cố ý làm trái 72; tinh thần trách nhiệm 49; bao che trù dập 30; tham nhũng, lãng phí 25; quản lý sử dụng đất đai 17; chỉ thị, nghị quyết 12; nguyên tắc tập trung dân chủ 7; đoàn kết nội bộ 04; buôn lậu trốn thuế 01; vi phạm khác 37.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp nhận thức đúng đắn, đã xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tại địa phương, đơn vị; quá trình thực hiện đảm bảo trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, chất lượng giải quyết ngày càng nâng lên. Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, đã thu hồi tài sản về cho Nhà nước, khôi phục, công nhận quyền sử dụng đất và giải quyết quyền lợi cho người dân; xử lý nghiêm các trường hợp tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ, công chức vi phạm nguyên tắc, Điều lệ Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó, đã tạo niềm tin và phần nào giải tỏa được những vấn đề bức xúc trong một bộ phận nhân dân.

3.2- Công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng

- Kiểm tra việc lãnh đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí:

Thực hiện Chương trình kiểm tra số 37-CTr/TW ngày 26/3/2007 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 26-KH/BCĐ ngày 08/6/2007 của Ban Chỉ đạo Kiểm tra Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng Kế hoạch số 34-KH/TU và tiến hành kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý sử dụng ngân sách và quản lý sử dụng đất đai giao cho các dự án gắn với kiểm tra việc lãnh đạo thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

Nhìn chung, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp đã tập trung chỉ đạo và chủ động hơn trong việc đề ra các biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhận thức của đại đa số đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và quần chúng nhân dân được nâng lên, thể hiện thái độ, trách nhiệm hơn trong thực hành tiết kiệm, phát hiện và đấu tranh phòng, chống những biểu hiện lãng phí ở cơ quan, địa phương, đơn vị. Việc tăng cường thanh tra, kiểm tra, phúc tra tập trung ở một số mặt, lĩnh vực trọng điểm về quản lý, sử dụng đất đai, về tài chính- ngân sách, mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ bản...Đã ngăn chặn, phòng ngừa kịp thời những vi phạm và phát hiện xử lý nghiêm minh những trường hợp tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; làm giảm dần tình trạng buông lỏng quản lý của một số địa phương, đơn vị và giảm dần tình trạng thất thoát tài sản của Nhà nước. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đồng thời, rút ra bài học kinh nghiệm, để có những giải pháp chỉ đạo thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

-  Công tác thanh tra các lĩnh vực trọng điểm:

Căn cứ Kế hoạch công tác phòng, chống tham nhũng hàng năm của UBND tỉnh, các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra tập trung trên các lĩnh vực trọng điểm: quản lý tài chính ngân sách, đầu tư xây dựng, quản lý đất đai, mua sắm tài sản công...Trong thời gian qua (từ 01/10/2006 đến 30/6/2010), toàn tỉnh đã triển khai 1.099 cuộc thanh tra trên các lĩnh vực, kết thúc 1.085 cuộc; số đơn vị có sai phạm 1.266 đơn vị. Qua thanh tra, đã phát hiện và kiến nghị thu hồi 50,101 tỷ đồng, đã thu hồi nộp ngân sách 48,989 tỷ đồng; chuyển 11 vụ việc sang cơ quan điều tra làm rõ, xử lý theo quy định. Trong đó, lĩnh vực đầu tư xây dựng, quản lý đất đai và tài chính ngân sách là 171 cuộc, phát hiện sai phạm trên 3 lĩnh vực này là 7,333 tỷ đồng, đã thu hồi nộp ngân sách 7,041 tỷ đồng.

-  Công tác điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng:

+ Về công tác điều tra:

Trong thời gian qua, tình hình tham nhũng trên địa bàn tỉnh xảy ra ở các ngành, lĩnh vực như: thuế, đất đai, giáo dục, thu, chi tài chính ngân sách xã, phường, thị trấn...Trong các vụ tham nhũng đã phát hiện, có một số vụ tính chất, mức độ rất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho tài sản Nhà nước, gây bất bình trong dư luận. Điển hình là vụ tham ô tài sản xảy ra tại Nông trường Cao su Hàng Gòn, gây thiệt hại 6,426 tỷ đồng; vụ cố ý làm trái, lạm dụng chức quyền, thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Hội đồng bồi thường huyện Vĩnh Cửu, gây thiệt hại trên 4 tỷ đồng và 6.392 m2 đất... Kết quả trong thời gian qua, thông qua phản ảnh của quần chúng và các biện pháp nghiệp vụ, các ngành chức năng trong tỉnh đã phát hiện 54 vụ, 95 đối tượng; đã kết thúc điều tra 46 vụ với 76 bị can; đình chỉ điều tra 03 vụ với 05 bị can; đang tiếp tục điều tra 04 vụ với 03 bị can.

+ Về công tác truy tố:

Thời gian qua, ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh thụ lý 39 vụ, 74 bị can và thực hiện công tác kiểm sát điều tra 7 vụ, 18 bị can. Ngoài ra, được sự ủy quyền của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã kiểm sát xét xử một số vụ; trong đó, có 02 vụ/50 bị can gồm: vụ án Tôm Hồng và đồng bọn bị Viện Kiểm sát nhân dân tối cao truy tố về tội “tham ô tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, vụ án Nguyễn Lâm Thái và đồng bọn can tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trốn thuế, cố ý làm trái và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiệm trọng” xảy ra tại 38 Bưu điện tỉnh trong cả nước gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước 47 tỷ đồng.

+ Về công tác xét xử:

Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử 38 vụ án, với 73 bị cáo; mức án cao nhất 8 năm tù, thấp nhất cải tạo không giam giữ; có 40/73 bị cáo cho hưởng án treo (cải tạo không giam giữ 02, tù giam 31, treo 40). Tất cả vụ án xét xử đều bảo đảm tính nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không có trường hợp xử oan người không phạm tội, không bỏ lọt tội phạm.

4- Việc thành lập và hoạt động của cơ quan phòng, chống tham nhũng tỉnh, huyện (tương đương) và các cơ quan, đơn vị, sở, ban ngành

Sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng có hiệu lực, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4853/QĐ-UBND ngày 15/5/2006 về việc thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tội phạm tỉnh Đồng Nai và Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo theo tinh thần Quyết định số 38/2006/QĐ-UBND ngày 15/5/2006 (trong đó có lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, do 01 đồng chí lãnh đạo Thanh tra tỉnh phụ trách với vai trò là Phó Trưởng ban). Ngày 26/7/2007, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2315/QĐ-UBND thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng để tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong việc thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng. Đến ngày 27/9/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12 về “tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chống tham nhũng”. Để thực hiện đúng quy định của Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12 và được sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 676/QĐ-UBND ngày 03/3/2008 thành lập Ban chỉ đạo tỉnh Đồng Nai về phòng, chống tham nhũng gồm 08 thành viên, trong đó có Bộ phận giúp việc 10 đồng chí. Ban Chỉ đạo đã xây dựng xong Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo và phân công các thành viên trong Ban Chỉ đạo. Ngày 10/02/2010, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 464/QĐ-UBND thành lập Văn phòng Ban Chỉ đạo tỉnh Đồng Nai về phòng, chống tham nhũng. Hiện nay, Văn phòng Ban Chỉ đạo tỉnh đã có quy định về tổ chức hoạt động; có Chánh Văn phòng và 02 Trưởng phòng Nghiệp vụ.

Nhiều sở, ngành cấp tỉnh đã chủ động thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng kiêm nhiệm. Riêng cấp huyện không thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng mà cơ cấu đồng chí lãnh đạo Thanh tra huyện nằm trong Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của huyện với vai trò là Phó Trưởng ban Chỉ đạo theo dõi công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương.

5- Sự giám sát của nhân dân và các cơ quan dân cử đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

5.1- Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể

UBND tỉnh Đồng Nai đã triển khai nghiêm túc Nghị định số 99/2005/NĐ-CP ngày 28/7/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng; phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hoạt động thanh tra nhân dân; tiến hành khảo sát, đánh giá tình hình hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn và xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng cho 1880 thành viên Ban thanh tra nhân dân của 171/171 xã, phường, thị trấn theo tinh thần Nghị định số 99/2005/NĐ-CP của Chính phủ; chỉ đạo ngành Thanh tra thực hiện Quy chế phối hợp với Ủy ban Mặt trận cùng cấp trong việc xử lý các kiến nghị của Ban thanh tra nhân dân. Qua đó, đã phát huy vai trò của Ban thanh tra nhân dân ở cơ sở trong việc phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan báo chí đã tham gia tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng tại địa phương; một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã được phát hiện, điều tra, xử lý trên cơ sở các thông tin phản ánh trên báo chí. Ngoài ra, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện khá tốt các hoạt động giám sát và vận động nhân dân giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ, góp ý kiến xây dựng các chương trình kinh tế.

5.2- Đối với cơ quan dân cử

Trong các phiên họp định kỳ, HĐND các cấp đều thể hiện tinh thần trách nhiệm trong việc thảo luận, chất vấn, yêu cầu các ngành chức năng báo cáo giải quyết một số vụ việc tiêu cực, nổi cộm tại địa phương, đơn vị và đề xuất các giải pháp thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của địa phương. Hàng năm, các ban HĐND đều có chương trình giám sát định kỳ và đột xuất đối với một số lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời sai phạm. Đại biểu HĐND các cấp thực hiện tốt việc tiếp xúc cử tri, quan tâm lắng nghe phản ảnh của nhân dân liên quan đến việc tham nhũng, lãng phí trên địa bàn. Qua đó, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý.

III- ĐÁNH GIÁ CHUNG

1- Ưu điểm

Trong những năm qua, Tỉnh ủy, các cấp ủy, Ban cán sự đảng, đảng đoàn và các sở, ban ngành, đoàn thể đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Các cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bằng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị để tổ chức thực hiện; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đảng viên, cán bộ, công chức. Qua đó, xác định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Xác định được trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, trong việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cải cách hành chính có chuyển biến tích cực, việc thực hiện cơ chế “một cửa”, một cửa liên thông và công khai thủ tục hành chính ở một số ngành liên quan trực tiếp, quan hệ với nhân dân và doanh nghiệp đã giảm bớt phiền hà, thúc đẩy đầu tư phát triển. Quy chế dân chủ ở cơ sở thực hiện có tiến bộ, vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thiết thực hơn. Đặc biệt là việc tổ chức thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tạo thuận lợi cho mỗi đảng viên và cán bộ, công chức nêu cao tính tự giác, thường xuyên rèn luyện, trau dồi phẩm chất, đạo đức cách mạng; phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của mỗi đảng viên. Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử được chú trọng; số vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý kịp thời, được quần chúng nhân dân tin tưởng. Các cơ quan pháp luật của tỉnh được kiện toàn, trong đó có Ban Chỉ đạo và Văn phòng Ban Chỉ đạo tỉnh về phòng, chống tham nhũng, đã góp phần đưa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên địa bàn tỉnh có những chuyển biến theo hướng tích cực.

2- Tồn tại, hạn chế

- Việc tổ chức triển khai, quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ở một số đoàn thể cấp sở, ngành còn chậm; việc xây dựng chương trình hành động có nơi còn mang tính hình thức hoặc sao chép của cấp ủy cấp trên nên chưa sát, chưa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước  về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn có nơi tổ chức thực hiện chưa phù hợp với từng đối tượng. Các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, bài về giải pháp phòng, ngừa và những gương điển hình tốt về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn ít.

- Việc phát hiện các vụ việc tham nhũng, tự kiểm tra phát hiện của từng cơ quan, đơn vị và thông qua giám sát của HĐND các cấp chưa nhiều, vẫn là khâu yếu. Đa số các vụ việc được phát hiện và xử lý trong thời gian qua do hoạt động thanh tra, kiểm tra, điều tra của các cơ quan chức năng cấp trên. Bản thân tổ chức đảng nơi có đảng viên vi phạm về tham nhũng hầu như chưa phát hiện. Việc giải quyết đơn tố cáo của công dân ở các ngành, các cấp, còn một số vụ dây dưa kéo dài, khiếu kiện đông người vẫn còn xảy ra. Việc xử lý các vụ việc tiêu cực, tham nhũng nhìn chung còn chậm.

- Một số cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức chưa đề ra kế hoạch thực hiện việc phòng, ngừa và phát hiện hành vi tham nhũng, lãng phí. Thậm chí còn một số tổ chức cơ sở đảng thiếu quan tâm xây dựng kế hoạch hoặc có kế hoạch nhưng không tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

- Công tác kê khai tài sản, thu nhập theo Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ tuy được quán triệt và thực hiện tốt; song trong quá trình thực hiện còn một số cá nhân, tổ chức thực hiện chưa nghiêm.

- Chất lượng hoạt động của một số Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị còn hạn chế, vai trò, trách nhiệm trong giám sát thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa được coi trọng; hiệu quả giám sát chưa cao, chưa phát huy tốt vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh phòng, tham nhũng.

3- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Do cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập, chưa theo kịp diễn tiến nẩy sinh từ thực tế trên một số lĩnh vực trọng yếu, tác động ảnh hưởng trực tiếp đến an sinh xã hội, nhất là về quản lý sử dụng, quy hoạch đất đai, về đầu tư xây dựng, về tiền của nhân dân đóng góp...Bên cạnh đó, chưa có cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp, thiết thực để thực hiện tốt việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Các lực lượng chuyên trách về phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đủ mạnh, điều kiện vật chất phục vụ cho yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn hạn chế.

- Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị: thiếu chủ động trong tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thậm chí còn chủ quan cho rằng địa phương, đơn vị mình không có tham nhũng, lãng phí. Việc tự phê bình và phê bình của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, tinh thần đấu tranh với cái xấu, cái ác ở một số đơn vị chưa cao nên việc tự phát hiện các hành vi tham nhũng thấp. Một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về đạo đức và lối sống.

B- MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TRONG NHIỆM KỲ TỚI

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) trong thời gian tới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, sở, ban, ngành, đoàn thể tập trung thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

1- Nhiệm vụ chủ yếu

Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy hiệu quả quản lý của Nhà nước trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lấy nhiệm vụ, mục tiêu phòng ngừa, ngăn chặn là chính. Thường xuyên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn với vai trò giám sát của cả hệ thống chính trị, của quần chúng nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ động phát hiện và xử lý kịp thời những biểu hiện tiêu cực, hành vi vi phạm pháp luật của đảng viên, cán bộ, công chức. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng tổ chức, cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

2- Một số giải pháp chủ yếu

- Các cấp ủy, tổ chức đảng, đoàn thể, các sở, ngành tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt sâu Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) các Kế hoạch, Chương trình hành động của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tập trung triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, gắn với thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện để hoàn thành tốt các nhiệm vụ theo các Kế hoạch số 30-KH/TU ngày 07/02/2007, Kế hoạch số 106-KH/TU ngày 21/5/2009 của Tỉnh ủy.

- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo hướng đi vào chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm. Nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, cán bộ chủ chốt các cấp phải luôn mẫu mực, trong sáng, là tấm gương cho cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo. Nâng cao ý thức trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng bộ, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhân dân trong tỉnh vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Tăng cường trách nhiệm của tổ chức đảng trong công tác quản lý, giáo dục đảng viên, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Đổi mới công tác cán bộ phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, như: chú trọng giám sát chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ được giao và các mối quan hệ của từng đảng viên; thực hiện nghiêm túc việc phát huy dân chủ, công khai trong công tác tự phê bình và phê bình; sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ; đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu; tiếp tục thực hiện nghiêm việc công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của đảng viên, cán bộ, công chức theo đúng quy định của Chính phủ.

- Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế - xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 21/02/2008 của Tỉnh ủy, trong đó, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính trên các lĩnh vực thường xuyên tiếp xúc với nhân dân và doanh nghiệp. Tăng cường chỉ đạo các cơ quan chức năng rà soát các văn bản để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời, giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước. Đẩy mạnh thực hiện việc công khai, minh bạch trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, như: quản lý và sử dụng đất đai, thuế, hải quan, thu, chi ngân sách, đầu tư xây dựng, cổ phần hóa doanh nghiệp....Thực hiện bước 2 Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, quản lý xã hội, giải quyết công việc của người dân, chống tiêu cực, sách nhiễu. Tiếp tục thực hiện các quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; thực hiện tốt việc chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức theo Nghị định số 158/2007/NĐ của Chính phủ. Xây dựng Chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2010 - 2020.

- Tiếp tục kiện toàn về tổ chức, nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh về phòng, chống tham nhũng và các đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng. Các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lựa chọn những cán bộ có đủ năng lực và bản lĩnh về thực hiện công tác này. Trong đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng. Các cấp ủy, chính quyền xây dựng kế hoạch thực hiện tốt quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật; tập trung thanh tra các lĩnh vực trọng điểm, dư luận xã hội bức xúc, như: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, thực hiện chính sách bồi thường, giải tỏa, tái định cư, quản lý tài sản công, quản lý thu, chi ngân sách, quản lý và sử dụng vốn ngân sách...gắn với thanh tra việc thực thi chức trách công vụ đối với một số lĩnh vực nhạy cảm, được dư luận quan tâm. Qua công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, kiểm sát và xử lý các vụ việc, vụ án, phát hiện kịp thời những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý Nhà nước để kiến nghị việc hoàn thiện thể chế, nhằm phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả hơn.

Tiếp tục coi công tác phòng, chống tham nhũng là một trong những công tác lớn; đưa vào chương trình công tác của cấp ủy các cấp để kiểm điểm việc thực hiện theo định kỳ công tác (tháng, quý, năm). Các cơ quan pháp luật của tỉnh xác định địa bàn trọng điểm, tập trung thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh, phát hiện, xử lý kịp thời, dứt điểm các hành vi, vụ án liên quan đến tham nhũng.

- Tăng cường giám sát của nhân dân và của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân các cấp, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, đi vào các lĩnh vực thường xảy ra tham nhũng, nhằm phát hiện những tồn tại, yếu kém, kịp thời kiến nghị, đề xuất cấp ủy đảng, Ban Chỉ đạo tỉnh về phòng, chống tham nhũng củng cố, chấn chỉnh, khắc phục.

- Chỉ đạo sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) các Kế hoạch, Chương trình hành động của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; biểu dương những địa phương, đơn vị thực hiện tốt; đồng thời nghiêm túc phê bình, kiểm điểm đối với những đơn vị không chấp hành và thực hiện chưa nghiêm sự chỉ đạo của cấp ủy.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy kính báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” trong thời gian qua.

 

 

 

BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY

 

 

 


CÁC VỤ ÁN THAM NHŨNG ĐÃ XỬ LÝ HÌNH SỰ, HÀNH CHÍNH

VÀ ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

(TỪ THÁNG 10/2006 ĐẾN THÁNG 6/2010)

 


A- CÁC VỤ ĐÃ XỬ LÝ HÌNH SỰ, HÀNH CHÍNH VÀ ĐÌNH CHỈ

I- Các vụ án xử lý hình sự: (thời điểm tính khi Tòa xử và tuyên án)

Xử lý 38 vụ - 73  bị cáo; Áp dụng Điều 278 gồm: 28  bị cáo ( chiếm tỷ lệ 35,9%); Điều 279 gồm: 13 bị cáo (chiếm tỷ lệ 17,8%); Điều 280 gồm: 13 bị cáo (chiếm tỷ lệ 17,8%), Điều 281 gồm: 16  bị cáo (chiếm tỷ lệ 21,9%); Điều 284 gồm: 03 bị cáo (chiếm tỷ lệ 4,1%), cụ thể chi tiết từng năm là:

* Các vụ Tòa xử và tuyên năm 2007:

Xử lý 14 vụ - 31 bị cáo; Áp dụng Điều 278 gồm: 18 bị cáo (chiếm tỷ lệ 58%); Điều 279 gồm: 04 bị cáo (chiếm tỷ lệ 13%); Điều 280 gồm: 05 bị cáo (chiếm tỷ lệ 16%); Điều 281 gồm: 04 bị cáo (chiếm tỷ lệ 13%).

01. Mai Nữ Hạnh Huyền (thủ quỹ) và Đổ Văn Bắc (kế toán).

Tòa tuyên Mai Nữ Hạnh Huyền: 07 năm tù; Đổ Văn Bắc: 03 năm tù.

Điều 278

02. Trần Trọng Kim, phạm tội Điều 280 Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Tòa tuyên Trần Trọng Kim 08 năm tù.

Điều 280

03. Phan Tấn TàiĐinh Văn Na, phạm tội Điều 280 Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Tòa tuyên Phan Tấn Tài 03 năm tù và Đinh Văn Na 02 năm tù đều cho hưởng án treo.

Điều 280

04. Nguyễn Văn Vân, Bùi Thanh ChươngTrần Việt Phương, can tội Tham ô tài sản, Cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Cụ thể: lợi dụng sơ hở trong quản lý của các cấp có thẩm quyền, từ năm 2001 - 2005, Đào Văn Hòa - nguyên Chủ tịch UBND phường Trảng Dài, Trần Viễn Phương, Nguyễn Văn Vân, Bùi Đức Chương - Trưởng, phó KP5, tổ trưởng tổ 14, KP5 - Phường Trảng Dài có hành vi tham ô tài sản, cố ý làm trái quy định của nhà nước về thu, chi tài chính trong việc thực hiện các công trình điện do nhân dân đóng góp đầu tư, gây thiệt hại 379.884.157 đồng.

Tòa tuyên Nguyễn Văn Vân 07 năm tù giam, Bùi Thanh Chương 03 năm tù giam, Trần Viễn Phương 18 tháng tù giam.

Điều 278

05. Nguyễn Hùng Vương, Trần Minh Quân, Trần Ngọc Thành và Bùi Thanh Sơn, can tội nhận hối lộ 1,7 triệu đồng xảy ra tại xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Cụ thể: Nguyễn Hùng Vương với sự giúp sức của Trần Minh Quân, Trần Ngọc Thành, Bùi Thanh Sơn trong quá trình chặn bắt các đối tượng vận chuyển mủ cao su không rõ nguồn gốc đã nhận hối lộ 2 lần số tiền 1,7 triệu đồng để bỏ qua không xử lý các đối tượng.

Tòa tuyên Nguyễn Hùng Vương: 02 năm tù; Trần Minh Quân, Trần Ngọc Thành và Bùi Thanh Sơn: mỗi bị cáo 1 năm tù giam.

Điều 279

06. Lê Văn Đát - cán bộ địa chính xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ can tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt 119.100.000 đồng. Cụ thể: từ tháng 11/2005 đến tháng 10/2006, Lê Văn Đát đã chủ động đặt vấn đề với các hộ dân đưa tiền để Đát bao trọn gói làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng sau khi nhận tiền Lê Văn Đát không thực hiện đúng thỏa thuận mà đã chiếm đoạt 119.100.000 đồng của 39 hộ dân, sử dụng tiêu xài cá nhân rồi bỏ trốn. Tài sản thu hồi 15 triệu đồng.

Tòa tuyên Lê Văn Đát : 07 năm tù giam.

Điều 280

07. Nguyễn Văn Duy, Kế toán trưởng trường Mầm non phạm tội theo Điều 278 Tham ô;

Tòa tuyên Nguyễn Văn Duy  03 năm tù.

Điều 278

08. Trương Viết Phong, Đoàn Ngọc Việt, Lê Văn Dư và Nguyễn Sỹ Nguyên - Trường tiểu học Lam Sơn, huyện Xuân Lộc, phạm tội theo Điều 278 Tham ô tài sản - Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác, gây thiệt hại 57.979.162 đồng. Đã kết thúc điều tra chuyển Viện Kiểm sát đề nghị truy tố. Đã thu hồi được 53.307.114 đồng. Cụ thể từ năm 2001- 2006 Trương Viết Phong đã thông đồng với Đoàn Ngọc Việt lập khống hồ sơ quyết toán xây dựng cơ bản và mua sắm trang thiết bị lấy tiền chia nhau, gây thiệt hại 57.979.162 đồng.

Tòa tuyên Trương Viết Phong: 03 năm tù cho hưởng án treo; Đoàn Ngọc Việt: 02 năm tù cho hưởng án treo; Nguyễn Sỹ Nguyên: 01 năm 6 tháng tù cho hưởng án treo, Lê Văn Dự: 01 năm 6 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 278

09. Đoàn Hoành - cán bộ Chi cục thuế huyện Định Quán và Trương Văn Trường - cán bộ ủy nhiệm thu thuế xã Phú Vinh nhận hối lộ 700.000 đồng. Cụ thể 2 đối tượng đã nhũng nhiễu đòi ông Võ Văn Oanh đưa hối 700.000 đồng để được xây nhà không phải đóng thuế xây dựng. Ông Võ Văn Oanh làm đơn tố cáo gửi Công an huyện Định Quán và Công an huyện đã tổ chức bắt quả tang.

Tòa tuyên Đoàn Hoành: 18 tháng tù cho hưởng án treo Trương Văn Trường: 12 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 278

10. Nguyễn Công Nam - cán bộ địa chính xã Bàu Cạn, huyện Long Thành trong quá trình thực hiện đền bù giải tỏa hồ Cầu Mới đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt 4 triệu đồng bằng thủ đoạn yêu cầu các hộ dân nhận tiền đền bù phải nộp thuế không đúng chức năng nhiệm vụ để sử dụng cá nhân.

Tòa tuyên Nguyễn Công Nam: 3 năm tù giam.

Điều 280

11. Nguyễn Quang Tiệp - cán bộ chuyên trách Ban dân số, gia đình và trẻ em xã Bàu Cạn, huyện Long Thành tham ô 3.605.000 đồng bằng thủ đoạn nhận tiền phụ cấp của cộng tác viên và tiền văn phòng phẩm của Ban dân số, gia đình và trẻ em xã Bàu Cạn để sử dụng cá nhân.

Tòa tuyên Nguyễn Quang Tiệp: 12 tháng tù giam.

Điều 278

12. Nguyễn Văn Tâm, Lê Xuân Ẩn, Nguyễn Thị Thu và Lê Thị Liễu, xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, là kế toán trường tiểu học Suối Gấm, xã Núi Tượng, huyện Tân Phú cùng đồng bọn (03 bị can) có hành vi tham ô 50 triệu đồng và lập hồ sơ thanh quyết toán khống, khi đoàn thanh tra tiến hành kiểm tra thì đối tượng đã có hành vi tiêu hủy tài liệu.

Tòa tuyên Nguyễn Văn Tâm: 20 tháng tù giam, 3 bị cáo còn lại: 1 năm cho hưởng án treo. 

Điều 278

13. Võ Phong Lưu - Hiệu trưởng trường tiểu học Phan Đình Phùng, phường Bửu Long, thành phố Biên Hoà và Đào Thị Diệu - Kế toán Công ty TNHH Hương Thảo, phường Long Bình, cấu kết mua nước uống của Công ty Hương Thảo cho trường, nâng khống số lượng, giá để tham ô số tiền 46.735.000 đồng.

Tòa tuyên Võ Phong Lưu: 2 năm tù cho hưởng án treo và truy nã Đào Thị Diệu (do bị can bỏ trốn).

Điều 278

14. Nguyễn Thành Minh, Trần Văn Tài, Võ Văn SaHuỳnh Minh Thảnh.

Tòa tuyên Nguyễn Thành Minh với hình phạt cải tạo không giam giữ, Điều 281; Trần Văn Tài với mức án 6 tháng cho hưởng án treo, Điều 281; Võ Văn Sa với mức án 6 tháng cho hưởng án treo, Điều 281 Huỳnh Minh Thảnh, với hình phạt cải tạo không giam giữ Điều 281.

Điều 281

* Các vụ Tòa xử và tuyên năm 2008

Xử lý 12 vụ - 22  bị cáo; Áp dụng Điều 278 gồm: 07 bị cáo (chiếm tỷ lệ 32%); Điều 279 gồm: 02 bị cáo (chiếm tỷ lệ 9%); Điều 280 gồm: 01 bị cáo (chiếm tỷ lệ 4,54%), Điều 281 gồm: 10 bị cáo (chiếm tỷ lệ 45,5%), Điều 284 gồm: 02 bị cáo (chiếm tỷ lệ 9%);

15. Nguyễn Ngọc Chiến phạm tội Điều 281, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Thái Văn Nghĩa; Nguyễn Thành Sơn; Vũ Ngọc Tuấn

Tòa tuyên Nguyễn Ngọc Chiến 04 năm 06 tháng tù, Điều 281; Thái Văn Nghĩa 04 năm 06 tháng tù, Điều 281-285; Nguyễn Thành Sơn 01 năm 04 tháng tù Điều 281; Vũ Ngọc Tuấn 06 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 281

16. Đồng Xuân Chiến, Trần Hửu Nghị, Lê Đình Hùng và Trịnh Thị Dung Hòa  xã Gia Tân 1 và Lê Đình Hùng - Giám đốc Công ty TNHH Đức Lộc A có hành vi cố ý làm trái, tham ô tài sản, gây thiệt hại 554.000.000 đồng. Cụ thể: từ năm 2001-2002, Đồng Xuân Chiến đã huy động dân đóng góp tiền để làm 07 tuyến đường liên thôn. Sau khi làm xong đường, Chiến đã móc nối với Công ty TNHH Miền Đông và Lê Đình Hùng lập 07 hồ sơ khống 07 tuyến đường để rút tiền hỗ trợ xã hội hóa giao thông nông thôn của UBND tỉnh để chiếm đoạt 554.000.000 đồng.

Tòa tuyên Đồng Xuân Chiến: 30 tháng tù cho hưởng án treo; Lê Đình Hùng: 24 tháng tù cho hưởng án treo; Trần Hữu Nghị: 24 tháng tù cho hưởng án treo. Trịnh Thị Dung Hòa: Viện Kiểm sát rút truy tố.

Điều 281

17. Lã Văn Bích - Cán bộ trạm thú ý huyện Xuân Lộc trong quá trình đi thu phí kiểm soát giết mổ trên địa bàn huyện Xuân Lộc đã có hành vi ghi thu lệ phí giữa hóa đơn liên 1 và liên 2 chênh lệch để tham ô 3.000.000 đồng;

Tòa tuyên Lã Văn Bích: 36 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 278

18. Trần Hữu Quýnh - xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2006 đã có hành vi sử dụng tiền quỹ chi tiêu cá nhân không có khả năng chi trả, thiệt hại 36.850.000 đồng. Đã điều tra làm rõ thu hồi toàn bộ số tiền tham ô.

Tòa tuyên Trần Hữu Quýnh: 36 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 278

 19. Phạm Văn Hòa, Trương Ngọc Thành và Tôm Hồng, phạm tội Điều 278 Bộ Luật Hình sự; Tòa án xử cả 03 bị cáo cho hưởng án treo.

Tòa tuyên Phạm Văn Hòa với mức án 3 năm tù Điều 278, cho hưởng án treo Trương Ngọc Thành với mức án 3 năm tù Điều 278, cho hưởng án treo và Tôm Hồng với mức án 2 năm 9 tháng  tù Điều 278, cho hưởng án treo.

Điều 278

20. Nguyễn Văn Chơn can tội tham ô tài sản, xảy ra tại Chi cục Thuế huyện Định Quán, gây thiệt hại 20 triệu đồng. Cụ thể: Lợi dụng chức năng, nhiệm vụ được giao trực tiếp thu thuế công thương nghiệp của các hộ kinh doanh tại thị trấn Định Quán, Nguyễn Văn Chơn đã chiếm đoạt sử dụng mục đích cá nhân số tiền 20 triệu đồng. 

Tòa tuyên Nguyễn Văn Chơn: 2 năm tù giam.

Điều 278

21. Nguyễn Ngọc Chiến, Thái Văn Nghĩa, Nguyễn Thanh Sơn và Vũ Tuấn Ngọc cùng can tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế - Lợi dụng chức vụ quyền hạn -Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Hội đồng bồi thường, hội đồng thanh lý tài sản thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu. Cụ thể: thời gian năm 2003 - 2004, trong khi thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Đồng Nai "về việc thu hồi đất, giải tỏa đền bù đất tại Khu công nghiệp xã Thạnh Phú, Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu"; Nguyễn Hoàng Huynh - nguyên Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng bồi thường huyện Vĩnh Cửu cùng Nguyễn Minh Huấn, Thái Văn Nghĩa, Lê Toàn Hiếu, Vũ Đình Ngôn, Vũ Tuấn Ngọc là Chủ tịch, Phó chủ tịch thường trực, Ủy viên Hội đồng bồi thường và Tổ trưởng tổ chuyên trách Hội đồng bồi thường đã cố ý làm trái quy trình thủ tục thu hồi, áp giá, giải tỏa, bồi thường, lập hồ sơ thủ tục giao đất, cấp đất, thu tiền trái quy định Nhà nước, chi trả tiền đền bù sai đối tượng, giao cấp đất sai đối tượng gây thiệt hại 4.245.862.700đồng và 6.392m2 đất. Đã thu hồi 796.960.400đồng và 6.392m2 đất.

Tòa tuyên Nguyễn Hoàng Huynh: 4 năm tù giam với 2 tội danh (165-285); Nguyễn Ngọc Chiến: 4 năm, 6 tháng (165-281); Thái Văn Nghĩa: 5 năm, 6 tháng (165-281-285); Lê Toàn Hiếu và Vũ Tuấn Ngọc: Cùng 2 năm (165 treo); Nguyễn Minh Huấn: 18 tháng treo (165); Nguyễn Thanh Sơn: 1 năm, 4 tháng, 7 ngày giam (281 đúng thời gian tạm giam);

Điều 281

22. Vũ Ngọc Cường, sinh năm 1975, trú ấp Bảo Vinh B, xã Bảo Vinh, thị xã Long Khánh là kế toán ngân sách xã Bảo Quang có hành vi tham ô tài sản. Cụ thể từ năm 2004 - 2007, Vũ Ngọc Cường có hành vi thu tiền xã hội hóa giao thông (tiền điện) của nhân dân nhưng không nộp ngân sách nhà nước, gây thiệt hại 71 triệu đồng.

Tòa tuyên Vũ Ngọc Cường: 4  năm tù giam;

Điều 278

23. Hà Giang Long, phạm tội Điều 284, Tội giả mạo trong công tác.

Tòa tuyên Hà Giang Long với mức án 03 năm tù.

Điều 284

24. Hà Trọng Nghĩa, sinh năm 1960, nguyên là cán bộ địa chính xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, có hành vi làm giả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Tấn Tài (đã chết) cho con gái là bà Nguyễn Thị Minh Nguyên, cụ thể Nghĩa đã giã chữ ký của ông Tài, bà Nguyên và cắt dán chữ ký của Phó Chủ tịch UBND xã sau đó photocopy, đóng dấu UBND xã Xuân Hòa và tự ghi số hợp đồng. Ngày 27/6/08, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Hà Trọng Nghĩa về tội “ Giả mạo trong công tác Điều 284, Bộ Luật Hình sự”.

Tòa tuyên Hà Trọng Nghĩa: 2 năm, 6 tháng tù treo.

Điều 284

25. Đào Kim Sương - Phó Chánh thanh tra và Trần Thị Quốc Thân - cán bộ thanh tra huyện Vĩnh Cửu trong quá trình thực hiện chức năng thanh tra việc quản lý, sử dụng đất công tại xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu thời gian từ 27/7/2007 đến 28/9/2007 đã dùng thủ đoạn nhũng nhiễu, cố ý làm trái quy trình thanh tra, nhằm mục đích đòi hối lộ và thực tế đã thực hiện hành vi nhận hối lộ 45,5 triệu đồng của ông Nguyễn Thành Danh. Đặc biệt trên cơ sở kết quả điều tra cho thấy ông Y Kim Dư - Chánh Thanh tra huyện Vĩnh Cửu nổi lên vai trò chủ mưu trong việc bàn bạc, tổ chức chỉ đạo cấp dưới nhận hối lộ, do đó cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Y Kim Dư về hành vi nhận hối lộ. Tuy nhiên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can đối với Y Kim Dư với lý do không đủ chứng cứ buộc tội Y Kim Dư.

Tòa tuyên Đào Kim Sương: 3 năm tù; Trần Thị Quốc Thân: 18 tháng tù.

Điều 279

26. Vũ Văn Phú - Cán bộ địa chính xã Đắc Lua, huyện Tân Phú có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (79.559.967 đồng) của 43 cá nhân bằng thủ đoạn nhận tiền để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Đã khắc phục thiệt hại cho 40 cá nhân với số tiền 45.900.000 đồng.

Tòa tuyên Vũ Văn Phú: 3 năm tù giam.

Điều 280

* Án Tòa xử  và tuyên năm 2009

Xử lý 08 vụ - 11 bị cáo; Áp dụng Điều 278 gồm: 03 bị cáo (chiếm tỷ lệ 27,3%); Điều 279 gồm: 01 bị cáo (chiếm tỷ lệ 9%); Điều 280 gồm: 05 bị cáo (chiếm tỷ lệ 45,5%), Điều 281 gồm: 02 bị cáo (chiếm tỷ lệ 18,2%).

27. Lê Văn Hòa là Trưởng Ban quản lý chợ xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc. Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát thì Hòa đã thu và sử dụng số tiền khoảng trên 30 triệu đồng của rất nhiều tiểu thương, Viện Kiểm sát để nghị truy tố Lê Văn Hòa với 2 tội danh được quy định tại Điều 278 và 280 Bộ Luật Hình sự. Ngày 23/5/07, Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án và bị can (Điều 278 và Điều 281 Bộ Luật Hình sự).

Tòa tuyên Lê Văn Hòa: 3 năm tù (Điều 278); Trương Thị Út: 12 tháng tù cho hưởng án treo (Điều 280).

Điều 278Điều 280

28. Đỗ Văn Lưu - Trưởng khu phố 4, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa nhận hối lộ 3 triệu đồng của ông Lê Quốc Tuấn và Nguyễn Văn Nhân để cho hai ông  Lê Quốc Tuấn và Nguyễn Văn Nhân xây dựng nhà trái phép trên khu vực đất quy hoạch phường Quang Vinh.

Tòa tuyên Đỗ Văn Lưu: 30 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 279

29. Trần Phước Hóa, sinh năm 1956, ngụ ấp Tam Hiệp, xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc: Ngày 10/9/2008, cơ quan cảnh sát điều tra đã khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Trần Phước Hóa về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” Điều 280 Bộ Luật Hình sự.

Tòa tuyên Trần Phước Hóa: 24 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 280

30. Trần ThuNguyễn Văn Phước. Ngày 28/8/2008, cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đồng Nai đã khởi tố vụ án lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (281 Bộ Luật Hình sự) xảy ra tại Trạm Thú y    huyện Vĩnh Cửu.  Ngày 03/10/08, cơ quan cảnh sát điều tra đã khởi tố bị can Trần Thu - Phó Trạm thú y và Nguyễn Văn Phước - Cộng tác viên thú y huyện Vĩnh Cửu. Về tội "Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Tòa tuyên cả 2 bị cáo Trần Thu Nguyễn Văn Phước: 18 tháng tù cho hưởng án treo.

Điều 281

31. Đỗ Bình, sinh 1955, ngụ xã Tân Hiệp, Long Thành, là cán bộ Thú y, kiêm cộng tác viên thu phí giết mổ gia súc. Ngày 10/12/2008, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Thành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bình về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, theo điều 280 Bộ Luật Hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi hết số tiền, chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long thành. Thiệt hại 21.917.000 đồng.

Tòa tuyên Đỗ Bình: 03 năm tù cho hưởng án treo.

Điều 280

32. Đỗ Thành Nhân, 1963, thường trú ấp 2, An Hoà, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Ngày 05/11/2008,  Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Thành, khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Đỗ Thành Nhân về tội "Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo điều 280 Bộ Luật Hình sự. Thiệt hại 83.213.000 đồng.

Tòa tuyên Đỗ Thành Nhân: 04 năm tù.

Điều 280

33. Nguyễn Đình Quốc, sinh năm 1975 là Thanh tra viên thuộc Thanh tra giao thông, Sở Giao thông - Vận tải Đồng Nai, Ngày 09/4/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Đình Quốc về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành   công vụ.

Tòa tuyên Nguyễn Đình Quốc: 1 năm tù cho hưởng án treo.

Điều 280

34. Vụ Mai Xuân Thành, sinh năm 1986 và Trần Trọng Luật sinh năm 1986, Mai Xuân Thành đã cấu kết với Trần Trọng Luật đã nhiều lần thực hiện hành vi tham ô tài sản chiếm đoạt của Công ty cổ phần xăng dầu Tín Nghĩa tổng số tiền 123.425.500đ.

Tòa tuyên Mai Xuân Thành với mức án 07 năm 6 tháng tù Điều 278  Trần Trọng Luật 7 năm tù.

Điều 278

* Các vụ Tòa xử  và tuyên năm 2010:

Xử lý 04 vụ - 09 bị cáo (trong đó có 01 vụ - 03 bị cáo án do Cơ quan điều tra Bộ Công an điều tra); Áp dụng Điều 279 gồm: 06  bị cáo (chiếm tỷ lệ 66,7%); Điều 280 gồm: 02 bị cáo (chiếm tỷ lệ 22,2%), Điều 284 gồm 01 bị cáo (chiếm tỷ lệ 11,1%).

35. Vụ Phan Nhựt Linh, Võ Thanh Dũng và Phan Thành Nhân

 Ngày 17-7 và ngày 22-7-2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Biên Hòa đã tiến hành bắt khẩn cấp và khám xét tại nơi làm việc đối với 3 cán bộ Đội Quản lý trật tự đô thị (QLTTĐT) Biên Hòa, gồm: Phan Nhựt Linh; Võ Thanh Dũng Phan Thành Nhân cùng can tội nhận hối lộ (quy định tại Điều 279 Bộ Luật Hình sự). Ngày 22-7, Công an Thành phố Biên Hòa đã ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 3 tháng cả 3 bị can để điều tra làm rõ.

Tòa tuyên Phan Nhật Linh với mức án 30 tháng tù, Võ Thanh Dũng 24 tháng tù, Phan Thành Nhân 18 tháng tù  đều cho hưởng án treo.  

Điều 279

Ngày 18/5/2010, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có kháng nghị giám đốc thẫm số 697/KNGĐT-VKS, bởi chưa điều tra làm rõ hành vi của Phan Nhật Linh có dấu hiệu đòi hối lộ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra, truy tố và xét xử lại theo thủ tục chung.

36. Vụ Ngô Đình Nhu Phan Tiến Đường

Ngày 03/8/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Biên Hòa, khởi tố vụ án và khởi tố 2 bị can đó là: Ngô Đình Nhu, cán bộ công ty Quản lý và sửa chữa đường bộ 76 và Phan Tiến Đường, chiến sỹ phòng Cảnh sát Bảo vệ Công an tỉnh Đồng Nai. Cùng can Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (quy định tại Điều 280 Bộ Luật Hình sự. Số tiền chiếm đoạt là 10.000.000đ của Công ty TNHH Minh Hằng.

Tòa tuyên Ngô Đình Nhu: Mức án 06 tháng tù và Phan Tiến Đường: 05 tháng tù cho hưởng án treo

Điều 280

37. Vụ Nguyễn Đình Ngận

Ngày 14/7/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh khởi tố vụ án. Ngày 22/7/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố bị can Nguyễn Đình Ngận, sinh năm 1980, nhân viên Trung tâm kỷ thuật địa chính, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đồng Nai. Ngày 07/9/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã bắt tạm giam Nguyễn Đình Ngận theo Điều 284 Bộ Luật Hình sự.

Tòa tuyên Nguyễn Đình Ngận với mức án 01 năm tù cho hưởng án treo.

Điều 284

38. Ngoài ra, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp nhận thụ lý và đưa ra xét xử: 01 vụ - 03 bị cáo can tội nhận hối lộ xảy ra tại Chi Cục Quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai, án do Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an (C37-48) chuyển.

Tòa tuyên Phạm Hửu Tuấn Đội trưởng đội quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai, mức án 08 năm tù, Nguyễn Quốc Lệ, nhân viên đội Quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai mức án 2 năm 6 tháng tù cho hưởng án treo Phạm Hửu Tiến, nhân viên đội Quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai mức án 2 năm tù cho hưởng án treo.

Điều 279

II- Các vụ tham nhũng xử lý hành chính

01. Lê Minh Cường, sinh năm 1978, Phó Chủ tịch UBND xã Long Hưng nhận hối lộ 1.000.000 đồng. Do Lê Minh Cường đã khắc phục hậu quả, các ngành thuộc khối Nội chính huyện Long Thành đã thống nhất xử lý hành chính.

02. Phan Phát - Xã đội trưởng xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc can tội nhận hối lộ: cụ thể thông qua xét duyệt tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2006 Phát đã nhận của 02 người có tên trong danh sách xét nghĩa vụ quân sự số tiền 1.000.000 đồng (mỗi người 500.000đ) mà biết chắc 02 người này không thể trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Sau đó, 02 người này có đơn tố cáo lên UBND huyện Xuân Lộc. Kết quả vụ việc đã được làm rõ Phan Phát đã bị cắt chức xã đội trưởng và Phát đã trả lại 1.000.000 đồng cho 02 người trên.

03. Dương Văn Nhị - cán bộ trạm thú y xã Xuân Thành, huyện Xuân Lộc trong quá trình kiểm dịch động vật đã nhận hối lộ 300.000 đồng để cho động vật không có giấy chứng chứng nhận kiểm dịch qua trạm.

04. Vũ Thuỳ Dương, sinh năm 1981, thường trú: Ấp 1, xã Tà Lài, huyện Tân Phú, nguyên là kế toán trưởng trường mẫu giáo Minh Khai, can tội tham ô tài sản. Cụ thể: năm 2002, được giao nhiệm vụ thu tiền quỹ xã hội giáo dục số tiền 460.000đồng Dương không quyết toán nộp tiền vào kho bạc theo quy định, khi chuyển công tác về đơn vị khác, không bàn giao cho kế toán mới số tiền trên.

05. Thái Văn Nghĩa và đồng bọn có hành vi cố ý làm trái và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu, gây thiệt hại 65,38 triệu đồng. Đã khởi tố vụ án nhưng quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của các đối tượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên đình chỉ điều tra, đề nghị xử lý kỷ luật 10 đối tượng.

06. Triệu Thị Sương, tham ô tài sản xảy ra tại trường mầm non Bình Đa, thành phố Biên Hòa. Qua điều tra không đủ chứng cứ chứng minh đối tượng Triệu Thị Sương - Hiệu trưởng trường mầm non Bình Đa phạm tội tham ô tài sản, chỉ có hành vi cố ý làm trái nhưng hậu quả chưa nghiêm trọng, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra đình chỉ điều tra, trả lại toàn bộ hồ sơ cho Thanh tra thành phố Biên Hòa để xử lý hành chính.

07. Nguyễn Văn Dương - Thường trực Hội Cựu chiến binh xã Xuân Bảo, huyện Cẩm Mỹ lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt 17.687.000 đồng. Cụ thể: trong quá trình được giao nhiệm vụ thu hồi tiền vay vốn dự án 120 của các hội viên hội cựu chiến binh xã Xuân Bảo, Nguyễn Văn Dương đã không nộp cho ngân hàng mà chiếm đoạt 17.687.000 đồng chi tiêu cá nhân, đã thu hồi được số tiền chiếm đoạt.

III- Các vụ đình chỉ điều tra

01. Vụ Vũ Ngọc Thành - Chủ tịch Hội Nông dân xã Phú Thanh, huyện Tân Phú có hành vi thu tiền vay của các hộ dân tại ngân hàng chính sách huyện đã được xóa nợ để chiếm đoạt 39.127.000 đồng. Đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Ngọc Thành về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Do bị can bỏ trốn khỏi địa phương nên Công an huyện Tân Phú tạm đình chỉ điều tra vụ án và ra quyết định truy nã bị can Vũ Ngọc Thành.

02. Vụ Nguyễn Thành Danh, Phó Chánh Văn phòng UBND huyện Vĩnh Cửu, có hành vi bao chiếm, sang nhượng đất công thu hồi bất chính 450 triệu đồng. Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh có quyết định khởi tố vụ án số 2157/VKS-P1 ngày 04/11/2008, Điều 281 Bộ Luật Hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiến hành điều tra. Ngày 17/7/2009, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC15) Công an tỉnh, ra quyết định khởi tố bị can để điều tra về hành vi "lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" đối với  nguyên 3 cán bộ ở huyện Vĩnh Cửu, gồm: Nguyễn Thành Danh, Phó chánh Văn phòng UBND huyện; Thái Văn Nghĩa, nguyên Trưởng phòng Tài nguyên-Môi trường huyện) và  Nguyễn Thành Tâm, cán bộ địa chính xã Thiện Tân. Cùng can Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Được quy định tại Điều 281 Bộ Luật Hình sự.

03. Vụ Lê Hữu Duyên. Ngày 7/8/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai (PC15), khởi tố vụ án và bị can đối với Lê Hữu Duyên, Phó Chủ tịch UBND xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282) và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh không phê chuẩn quyết định khởi tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh (PC15).

B- CÁC VỤ ĐANG TIẾP TỤC ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ

01. Vụ Tham ô tài sản, xảy ra tại Nông trường Cao su Hàng Gòn.

Ngày 19/5/2009, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Đồng Nai, ký Quyết định số 13/QĐ, quyết định khởi tố vụ án hình sự có dấu hiệu tham ô tài sản, được quy định tại Điều 278 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xảy ra tại nông trường Hàng Gòn, Công ty cao su Đồng Nai.

Ngày 31/7/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh (PC15) ra quyết định khởi tố 03 bị can, gồm: Võ văn Hùng, Giám đốc nông trường;  Lê Ngọc Thiện, Thủ kho; Phạm Văn Lợi, người nhận khoán vườn cây cao su của nông trường. Ngày 22/9/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh (PC15) ra quyết định khởi tố 04 bị can, gồm:  Nguyễn Văn Thành, Đội phó Bảo vệ; Nguyễn Văn Tức, cán bộ; Lê Văn Hiệp, cán bộ; Phạm Kim Hồng, bảo vệ và ngày 07/12/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh (PC15) ra quyết định khởi tố 02 bị can, gồm: Nguyễn Tuấn Đạt, bảo vệ và Nguyễn Văn Phát. Cùng can tội tham ô tài sản (quy định tại Điều 278 Bộ luật Hình sự). Bước đầu đã xác định tài sản bị chiếm đoạt ban đầu xác định khoảng 1.069.635.642đồng và tiếp đó lên đến 6.426.894.073 đồng, đã thu hồi 2.173.918.450đồng.

02. Vụ Nguyễn Tiến Nam, cán bộ xây dựng địa chính xã Bảo Quang. thị xã Long Khánh, Đồng Nai. Nguyễn Tiến Nam có hành vi nhận 64 triệu đồng của 13 hộ dân để làm hồ sơ đất, nhưng không làm. Ngày 04/8/2009, Thanh tra thị xã Long Khánh đã kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Long Khánh xem xét khởi tố vụ án. Ngày 08/4/2009, Thanh tra thị xã Long Khánh gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Long Khánh Bản kiến nghị khởi tố vụ án hình sự, đối với ông Nguyễn Tiến Nam, cán bộ địa chính xây dựng xã Bảo Quang theo quy định Điều 280 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 08/7/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Long Khánh và Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Long Khánh, có biên bản họp thống nhất miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Tiến Nam theo khoản 1, Điều 25 Bộ luật Hình sự. Ngày 30/ 7/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Long Khánh có quyết định không khởi tố vụ án hình sự (áp dụng Khoản 1-Bộ luật Hình sự). Ngày 09/10/2009, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh có văn bản yêu cầu hủy Quyết định không khởi tố vụ án Nguyễn Tiến Nam. Ngày 19/10/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Long Khánh có Quyết định khởi tố vụ án và khở tố bị can Nguyễn Tiến Nam.

03. Vụ Đậu Bá Kỳ

Qua công tác giải quyết đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị Hà, cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc có đủ căn cứ xác định Đậu Bá Kỳ, cán bộ địa chính xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc) đã có hành vi tẩy xóa hồ sơ mua bán, chuyển quyền sử dụng đất giữa bà Hà và ông Vũ Văn Lanh, làm bà Hà thiệt hại gần 8.000 m2 đất. Ngày 17/3/2010, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Đậu Bá Kỳ, về tội "Giả mạo trong công tác" (điều 284 Bộ luật Hình sự). Chuyển Viện kiểm sát nhân dân huyện từ ngày 29/4/2010.

04. Vụ Nguyễn Thanh Thơ

Khoảng tháng 04/2009, Nguyễn Thanh Thơ, 1977, phó Công an xã Thiện Tân; Nguyễn Ngọc Tài, 1973, Trưởng Công an xã Thiện Tân và Nguyễn Thanh Tùng, 1983, Công an viên xã Thiện Tân - huyện Vĩnh Cửu, đã có hành vi nhận 6.000.000đồng để làm ngơ cho việc đánh bạc tại khu vực giáp ranh giữa các phường Tân Biên, Tân Hòa, Trảng Dài - thành phố Biên Hòa. Qua quá trình điều tra, căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu được, ngày 26/11/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra (PC14) đã ra Quyết định khởi tố vụ án Nhận hối lộ xảy ra tại xã Thiện Tân - Vĩnh Cửu. Xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra cấp huyện, ngày 28/12/2009, Phòng (PC14) đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục điều tra làm rõ.

05. Vụ Nguyễn Thị Kim Ngọc

Nguyễn Thị Kim Ngọc, sinh năm 1965, Chi cục thuế huyện Xuân Lộc, tham ô số tiền 63.532.957đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã khởi tố vụ án và bị can ngày 07/12/2009. Tài sản thiệt hại lên tới 103.302.000đồng. Đang tổ chức truy bắt. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyên Xuân lộc đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra và truy nã đối tượng.

06. Vụ Nguyễn Thị Thanh Lan

Nguyễn Thị Thanh Lan - kế toán Bảo hiểm xã hội thị xã Long Khánh, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 4/2010 đã giả chữ ký của chủ tài khoản là Giám đốc Bảo hiểm thị xã Long Khánh 14 tờ sec tiền mặt để rút số tiền khoảng hơn 7.200.000.000 đồng sử dụng cá nhân. Ngày 25/5/2010, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai (PC46) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Thanh Lan về tội tham ô tài sản, để tiếp tục điều tra làm rõ (đã khắc phục hậu quả).

07. Vụ Nguyễn Minh Mẫn

Nguyễn Minh Mẫn, sinh năm 1966, ngụ tại 31/3/6, đường 5, KP3, phường Linh Tây, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, là nhân viên phòng kỹ thuật Công ty cổ phần xây lắp và sản xuất thiết bị ngành nước, đóng tại phường Tân Biên, Biên Hòa, Đồng Nai, trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 8/2009, đã lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý đi thu hồi nợ của khách hàng đã chiếm đoạt số tiền 524.369.347 đồng sử dụng cá nhân. Ngày 03/5/2010, Công an tỉnh  Đồng Nai (PC46) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh Mẫn về tội tham ô tài sản, để tiếp tục điều tra làm rõ (đã được 466.547.946 đồng).

C- CÁC VỤ VIỆC ĐANG THEO DÕI

 (Gồm các vụ án liên quan đến đơn, thư kéo dài, sai phạm của đối tượng thuộc tỉnh do địa phương khác phát hiện và vụ án đang chờ xin ý kiến)

01. Vụ sai phạm trong việc chấp hành các quy định pháp luật về ngành thuế qua thanh tra Công ty TNHH Tân Thuyết, huyện Vĩnh Cữu, với số tiền  144 triệu đồng. Thanh tra huyện Vĩnh Cửu chuyển Cơ quan điều tra Công an huyện, ngày 11/9/2008. Đã khởi tố về tội trốn thuế. (Vụ án liên quan đến đơn thư kéo dài).

02. Vụ vi phạm về quản lý, sử dụng đất, xảy ra tại Liên Đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam. Đã khởi tố vụ án về tội cố ý là trái các quy định Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng. (Vụ án liên quan đến đơn thư kéo dài).

Ngày 27/5/2010, khởi tố các bị can Các Nguyên Hùng, Liên đoàn Trưởng liên đoàn địa chất miền Nam, Nguyễn Quang Lộc Đoàn trưởng đoàn địa chất III, Hà Thị Đào kết toán trưởng Đoàn địa chất III, cố ý làm trái quy định gây hậu quả nghiêm trọng (số tiền thiệt hại khoảng 378.835.000đ). Ngày 31/5/2010, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh có quyết định chuyển vụ án và bị can số 932/VKS-P1 ngày 31/5/2010 và ngày 08/6/2010 (PC46) đã chuyển vụ án cho Công an Biên Hòa thụ lý.

03. Ngày 07/8/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai (PC15) khởi tố vụ án và bị can đối với Lê Hữu Duyên (Phó Chủ tịch UBND xã Phước Bình, Long Thành) về tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vụ án chưa được Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh phê chuẩn do chưa thống nhất quan điểm xử lý. Ngày 20/10/2009, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra Bộ Công an. Đang chờ ý kiến. (Vụ án đang chờ xin ý kiến).

04. Quá trình điều tra mở rộng vụ án "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" xảy ra tại Bệnh viện Chợ rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh), cơ quan điều tra Bộ Công an đã khởi tố 02 bị can công tác tại Đồng Nai, gồm: Nguyễn Sơn Lâm, Bác sỹ điều trị khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi Đồng, Đồng Nai; Hoàng Văn Tiến, Bác sỹ khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện đa khoa Thống nhất, Đồng Nai. Cả hai Bác sỹ đã có hành vi lấy thẻ Bảo hiểm y tế và giấy chuyển viện khống của Bệnh viện đa khoa Thống nhất, Đồng Nai chuyển Bệnh viện Chợ rẫy để các đối tượng tại Bệnh viện Chợ rẫy kê đơn thuốc khống chiếm đoạt gần 255 triệu đồng. Vụ án đang tiếp tục điều tra làm rõ. (Vụ án sai phạm của đối tượng thuộc tỉnh do địa phương khác phát hiện).

05. Vụ Bùi Thị Hoàng, Hiệu trưởng trường Mầm non xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ có dấu hiệu tham ô tài sản với số tiền khoảng 63.000.000 đồng. Ngày 08/02/2010, Thanh tra huyện Cẩm Mỹ đã chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ. (Đang chờ xin ý kiến).

 Video đại hội Đảng bộ

 Audio đại hội Đảng bộ Tỉnh

Phóng sự ảnh

Xem tất cả hình >>
CÁC KÌ ĐẠI HỘI